Nước mắt ngày giải phóng
Nguyễn Diệu Linh
Đại tá Nguyễn Văn Tàu cho biết, khi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975, ông được phân công làm Chính ủy Lữ đoàn đặc công - biệt động (Lữ đoàn 316), thành lập tháng 3-1974. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Lữ đoàn 316 được giao nhiệm vụ dẫn đường cho các đặc quân tiến vào các mục tiêu được phân công như sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc lập, Sở Cảnh sát…, đánh chiếm những cây cầu trọng yếu chung quanh Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho Lữ đoàn 203 xe tăng thuộc Quân đoàn 2 tiến nhanh vào Dinh Độc lập. Trận đánh tiêu biểu của Lữ đoàn 316 là trận đánh chiếm và giữ cầu Rạch Chiếc. Diễn ra từ ngày 28 đến 30-4-1975, trận chiến rất ác liệt, khi 200 chiến sĩ của ta chiến đấu với hơn 2.000 quân địch. Cuối cùng, quân ta đã thắng lợi, chiếm giữ và bảo vệ an toàn cây cầu huyết mạch, mở thông cánh cửa phía đông đón đại quân tiến vào Dinh Độc Lập. Trận chiến đó cũng khiến 52 chiến sĩ hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn.
Sáng 30-4-1975, ông Tư Cang có mặt tại Sở Chỉ huy Lữ đoàn 316 đóng tại sân đình ấp Thới Tứ, xã Thới Tứ, huyện Hóc Môn, nắm tình hình để báo cho Bộ chỉ huy chiến dịch. Ông cùng một đồng chí pháo binh của Quân đoàn 3 đến gặp và bàn chuyện đánh chiếm từng đường phố trong Sài Gòn, nhất là các vị trí cao ốc để đặt pháo bảo đảm hỗ trợ đắc lực cho bộ binh. Đang thảo luận chưa dứt, bỗng đồng chí cán bộ tuyên huấn của Lữ đoàn thông báo: Giặc đầu hàng rồi. Nhiều người dân cũng chạy tới quanh bộ đội reo lên: “Tụi nó đầu hàng rồi, Đài Sài Gòn nói vang lên rồi đó”.
Nhớ lại những khoảnh khắc ấy, ông tâm sự: “Tôi cảm thấy sung sướng, tự hào vì mình được sinh ra vào thời điểm vinh quang của dân tộc”. Từ người thanh niên 17 tuổi cầm cây tầm vông vạt nhọn cùng với dân làng Long Phước giành chính quyền tại thị xã Bà Rịa năm 1945, sau 30 năm tham gia kháng chiến, ông có mặt trong hàng ngũ những người đầu tiên tiến vào sào huyệt cuối cùng của quân thù. “Ngồi trên xe vẫy chào đồng bào ngày giải phóng, nước mắt tôi lưng tròng vì cảm động”, ông chia sẻ.



