Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐÊM TRƯỚC ĐỒNG KHỞI: NGƯỜI PHỤ NỮ CHUẨN BỊ CHO BẾN TRE ĐỨNG DẬY

Đầu tháng 1/1960, Nguyễn Thị Định trở về Bến Tre mang theo tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương. Trước mắt bà là một phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề, lực lượng vũ trang còn yếu và hệ thống kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn ở nông thôn. Chỉ trong ít ngày, bà cùng đồng chí, đồng bào chuẩn bị cuộc nổi dậy tại ba xã thuộc huyện Mỏ Cày. Ngày 17/1/1960, cuộc Đồng khởi bùng nổ, mở ra một bước ngoặt của phong trào đấu tranh ở miền Nam và sự ra đời của đội quân tóc dài.

Vĩnh Long28/10/2026Nguyễn Phương An Khương (Phường Bà Rịa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐÊM TRƯỚC ĐỒNG KHỞI: NGƯỜI PHỤ NỮ CHUẨN BỊ CHO BẾN TRE ĐỨNG DẬY
image.png

Trước khi trở thành nữ tướng, Nguyễn Thị Định đã có những năm tháng hoạt động bí mật ở Bến Tre, nơi sông rạch chia cắt những xóm làng và cũng là địa bàn diễn ra các cuộc đấu tranh quyết liệt. Cuối năm 1959, bà trở về Mỏ Cày sau một chuyến công tác quan trọng. Chỉ ít ngày nữa, vùng quê ấy sẽ bước vào cuộc Đồng khởi, sự kiện làm thay đổi cục diện cách mạng miền Nam.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Nguyễn Thị Định ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động. Phong trào cách mạng tại Bến Tre chịu nhiều tổn thất trước chính sách đàn áp, bắt bớ của chính quyền Ngô Đình Diệm. Nhiều cơ sở phải chuyển vào bí mật, một số cán bộ hy sinh hoặc bị bắt. Việc giữ liên lạc giữa các tổ chức cũng trở nên khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy không chỉ là vấn đề quyết tâm.

Tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15, xác định phương hướng đấu tranh cách mạng miền Nam. Cuối năm ấy, Nguyễn Thị Định tham gia tiếp thu và đưa chủ trương về Bến Tre. Theo hồi thuật trên Báo Nhân Dân, khi bà về đến Mỏ Cày ngày 30/12/1959, địa phương vừa trải qua một cuộc càn quét, nhiều đầu mối liên lạc bị mất.

Khó khăn lớn là làm thế nào phát động nhân dân nổi dậy khi lực lượng vũ trang tại chỗ còn mỏng. Nếu chỉ dựa vào số vũ khí ít ỏi, phong trào khó có thể đối đầu trực diện với hệ thống phòng thủ của đối phương. Nguyễn Thị Định và các đồng chí phải tìm cách kết hợp sức mạnh quần chúng, các tổ chức bí mật và sự vận động những người đang phục vụ trong bộ máy chính quyền Sài Gòn.

Ngày 1/1/1960, tại ấp Tân Huế, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, Nguyễn Thị Định tổ chức cuộc họp phổ biến chủ trương mới. Nội dung quan trọng là phát động quần chúng phá thế kìm kẹp, đồng thời chú trọng vận động gia đình binh sĩ và các cơ sở bên trong đối phương. Cách chuẩn bị ấy phản ánh đặc điểm của Bến Tre: lực lượng chính trị trong nhân dân là chỗ dựa không thể thiếu.

Ba xã Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp thuộc huyện Mỏ Cày được chọn làm địa bàn mở đầu. Ngày 12/1, Nguyễn Thị Định đến Bình Khánh gặp Nguyễn Tâm Cang, cán bộ phụ trách quân sự và binh vận, để trao đổi việc triển khai. Những cuộc họp ấy diễn ra trong điều kiện phải giữ bí mật, đề phòng bị phát hiện trước khi phong trào có thể đồng loạt hành động.

Ngày 17/1/1960, nhân dân Định Thủy và Bình Khánh nổi dậy. Các tổ du kích phối hợp với cơ sở nội tuyến và quần chúng tấn công bộ máy kìm kẹp, vận động lực lượng đối phương buông vũ khí. Tại Phước Hiệp, lực lượng địa phương tiếp tục hoạt động và đến ngày 18/1, xã được giải phóng. Những ngày đầu tiên đã cho thấy một phương thức đấu tranh mới có thể phát huy tác dụng.

Từ ba xã mở đầu, cuộc nổi dậy lan rộng ra nhiều địa phương Bến Tre. Theo tư liệu được Báo Nhân Dân công bố, trong khoảng một tuần, nhân dân 47 xã đã nổi dậy, trong đó có 22 xã được giải phóng hoàn toàn. Những kết quả ấy không có nghĩa mọi khó khăn đã chấm dứt. Chính quyền Sài Gòn nhanh chóng tổ chức các cuộc hành quân nhằm tái lập quyền kiểm soát.

Một đặc điểm nổi bật của Đồng khởi Bến Tre là sự tham gia rộng rãi của phụ nữ. Họ tổ chức đấu tranh chính trị, vận động binh lính, tham gia tiếp tế và hỗ trợ lực lượng vũ trang. Từ phong trào ấy hình thành đội quân tóc dài, tên gọi gắn liền với hình ảnh phụ nữ miền Nam tham gia đấu tranh. Nguyễn Thị Định trở thành một trong những người lãnh đạo tiêu biểu của phương thức kết hợp ba mũi giáp công: chính trị, quân sự và binh vận.

Nếu chỉ nhìn vào số xã giành được quyền làm chủ, người đọc sẽ khó thấy hết ý nghĩa của những ngày tháng Giêng năm 1960. Điều đặc biệt là những người nông dân, trong đó có rất nhiều phụ nữ, đã trở thành lực lượng trực tiếp làm nên thay đổi. Những người quen với ruộng vườn, chợ búa và công việc gia đình cũng tham gia tổ chức, bảo vệ và duy trì phong trào đấu tranh tại địa phương.

Nguyễn Thị Định về sau đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, trở thành nữ tướng nổi tiếng của Việt Nam. Nhưng để hiểu con đường ấy, cần nhớ bà từng phải giải quyết những vấn đề hết sức cụ thể tại Mỏ Cày: giữ liên lạc sau những cuộc càn quét, tập hợp lực lượng, tìm phương thức phối hợp và xác định thời điểm hành động. Những quyết định đó gắn với sinh mạng của cán bộ và nhân dân.

Đồng khởi không phải một sự kiện chỉ diễn ra trong một ngày. Sau thắng lợi ban đầu, phong trào phải đối mặt với những đợt phản kích và tiếp tục được củng cố. Bài học từ Bến Tre nằm ở khả năng tổ chức nhân dân trong hoàn cảnh khó khăn, không tách hoạt động quân sự khỏi các phong trào chính trị và đời sống cộng đồng.

Ngày nay, khi nhắc đến Nguyễn Thị Định, người ta dễ hình dung vị nữ tướng với khăn rằn và bộ quân phục. Nhưng hình ảnh đáng nhớ còn là người cán bộ trở về Bến Tre cuối năm 1959, đối diện với mạng lưới cơ sở bị tổn thất và nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Không có sự bảo đảm chắc chắn về thành công, những người tham gia vẫn phải lựa chọn cách hành động phù hợp với tình thế.

Ngày 17/1/1960 đã đi vào lịch sử Bến Tre. Phía sau cột mốc ấy là những cuộc họp bí mật, sự phối hợp của người dân và những phụ nữ dám bước ra khỏi giới hạn vai trò thông thường trong xã hội thời bấy giờ. Câu chuyện về Nguyễn Thị Định vì vậy không chỉ nói về tài năng của một người chỉ huy, mà còn về sức mạnh được tạo nên khi nhân dân trở thành chủ thể của lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn