Người có công giúp đỡ cách mạng

Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – người đưa lời ăn tiếng nói ngoài ngõ xóm vào sách học

Lo những câu tục ngữ, lời ru, câu hát và truyện kể truyền miệng sẽ dần sai lạc rồi biến mất, nhà giáo Nguyễn Văn Ngọc đã đi sưu tầm, phân loại và đưa chúng vào sách. Riêng Tục ngữ phong dao lưu giữ khoảng 6.500 câu tục ngữ và ca dao ngắn, 850 bài phong dao cùng khoảng 350 câu đố dân gian.

Đồng Nai23/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một câu tục ngữ không có tác giả đứng tên.

Nó có thể được người mẹ nói trong bữa cơm, người nông dân nhắc ngoài đồng hoặc một cụ già kể lại cho đám trẻ bên hiên nhà. Qua mỗi vùng, câu nói ấy có thể đổi một chữ. Qua một thế hệ, nó có thể mất một dòng. Đến khi người nhớ câu chuyện cuối cùng không còn nữa, một phần kinh nghiệm và tâm hồn của cộng đồng cũng biến mất.

Đầu thế kỷ XX, nhà giáo Nguyễn Văn Ngọc nhận ra nguy cơ ấy.

Ông gọi những câu tục ngữ, phong dao và chuyện kể dân gian là một “kho vàng” chung. Kho vàng ấy không nằm trong cung điện hoặc thư viện lớn. Nó nằm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của những người bình dân, ở nơi thôn quê, chợ búa, ngõ nhỏ và những gia đình ít người biết chữ.

Nếu không nhanh chóng thu nhặt, ghi chép và sắp xếp, kho vàng ấy có thể một ngày “sai suyễn, lưu lạc đi”.

Thế là người thầy bắt đầu một công việc kéo dài gần trọn đời: đưa lời nói truyền miệng của nhân dân vào sách.

Nguyễn Văn Ngọc sinh ngày 1/3/1890 tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê gốc của ông ở làng Hoạch Trạch, tên Nôm là làng Vạc, thuộc vùng Bình Giang của xứ Đông.

Thuở nhỏ, ông được học Hán văn, sau đó tiếp xúc với chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 17 tuổi, Nguyễn Văn Ngọc đã tốt nghiệp Trường Thông ngôn và Trường Bưởi. Nhưng thay vì theo đuổi con đường làm thông ngôn để có một vị trí thuận lợi trong bộ máy thuộc địa, ông chọn nghề dạy học.

Ông từng dạy tại Trường tiểu học Bờ Sông, Trường Bưởi, Trường Sĩ Hoạn và Trường Sư phạm. Sau này, ông làm thanh tra các trường sơ học, phụ trách Tu thư cục của Nha Học chính rồi giữ chức Đốc học tỉnh Hà Đông.

Đó là giai đoạn nền giáo dục Việt Nam đứng giữa nhiều luồng ảnh hưởng.

Hán học đang dần mất vị trí cũ. Chữ Quốc ngữ bắt đầu được phổ biến rộng hơn. Trong khi đó, chương trình của nhà trường thuộc địa vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa và mục tiêu giáo dục Pháp.

Nguyễn Văn Ngọc hiểu rằng nếu trẻ em chỉ biết đọc những bài học xa lạ mà không được tiếp xúc với lịch sử, lời ăn tiếng nói và văn chương của dân tộc mình, các em có thể biết chữ nhưng lại không hiểu được cội nguồn văn hóa đã nuôi dưỡng mình.

Bởi vậy, cùng với công việc giảng dạy, ông dành thời gian sưu tầm và biên soạn sách Quốc văn.

Tài liệu của ông không chỉ đến từ những bộ sách cổ. Nguyễn Văn Ngọc tìm trong đời sống: từ câu hát ru, lời đối đáp của trai gái, tiếng rao, câu ví, tục ngữ lao động đến những câu đố trẻ em thường truyền cho nhau.

Mỗi câu nghe được phải được ghi lại. Những câu gần giống nhau cần đối chiếu để tìm sự khác biệt. Sau đó, chúng được sắp xếp để người đọc có thể tra cứu thay vì đặt lẫn lộn như một tập giấy chép tay.

Công trình tiêu biểu nhất của ông là Tục ngữ phong dao, xuất bản năm 1928.

Theo các thống kê về bản sách, phần đầu tập hợp khoảng 6.500 câu tục ngữ, phương ngôn và những câu ca dao ngắn. Phần sau gồm khoảng 850 bài phong dao có từ bốn dòng trở lên, kèm khoảng 350 câu đố dân gian.

Như vậy, gần 8.000 đơn vị văn hóa truyền miệng đã được ghi lại trong một công trình có hệ thống.

Các câu tục ngữ được phân chia theo số lượng từ, từ những câu rất ngắn đến những câu dài hơn, rồi sắp đặt theo thứ tự chữ cái. Cách làm tưởng như đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn trong buổi đầu công tác sưu tầm văn học dân gian: nó giúp người đọc tìm được một câu nói dựa vào từ mở đầu, thay vì phải đọc toàn bộ cuốn sách.

Trong bộ sách ấy có kinh nghiệm dự báo thời tiết, lao động sản xuất, quan hệ gia đình, cách đối nhân xử thế và những nhận xét sắc sảo về xã hội.

Có câu dạy con người phải biết nhớ nguồn. Có câu phê phán thói tham lam, lười biếng hoặc khoe khoang. Có bài ca dao là lời tâm tình của người phụ nữ; bài khác lại là tiếng hát giao duyên của trai gái hoặc nỗi vất vả của người lao động.

Nguyễn Văn Ngọc không chỉ lựa chọn những câu trau chuốt, khuôn phép. Ông còn giữ lại những lời mộc mạc, thậm chí có phần thô ráp, bởi đó cũng là một phần của đời sống dân gian. Đối với người nghiên cứu, sự thật của tư liệu đôi khi quan trọng hơn việc làm cho quá khứ trở nên hoàn toàn đẹp đẽ.

Ông mong độc giả phát hiện chỗ thiếu sót, sai nhầm để tiếp tục bổ sung, sửa chữa. Công trình vì thế không được xem là tiếng nói cuối cùng của riêng một học giả, mà là một kho tư liệu chung cần nhiều thế hệ cùng vun đắp.

Ngoài Tục ngữ phong dao, Nguyễn Văn Ngọc còn biên soạn Truyện cổ nước Nam. Hơn 200 truyện cổ và sự tích về con người, đất nước, cỏ cây, chim thú được ông đưa từ lời kể truyền miệng vào văn bản Quốc ngữ.

Ông cũng tham gia biên soạn những tài liệu giáo khoa như Quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thưGiáo khoa văn học An Nam. Nhờ đó, học sinh không chỉ tập đọc bằng những câu chữ xa lạ mà còn được tiếp xúc với phong tục, đạo lý và cảnh vật quen thuộc của quê hương.

Năm 1926, Nguyễn Văn Ngọc cùng nhà giáo Trần Lê Nhân biên soạn Cổ học tinh hoa. Hai ông lựa chọn những chuyện ngắn từ thư tịch cổ phương Đông, dịch và kể lại bằng lối văn Quốc ngữ rõ ràng, dễ đọc.

Mục đích của họ không phải giữ nguyên mọi quan niệm của quá khứ, mà chắt lọc những bài học vẫn có ích cho con người đương thời. Ngay sau khi xuất bản, một phần tác phẩm đã được dùng làm tài liệu tập đọc cho học sinh.

Chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1927 đến năm 1936, Nguyễn Văn Ngọc đã cho ra đời gần mười bộ sách về truyện cổ, tục ngữ, ca dao, câu đối, thơ Nôm, hát nói và văn học giáo khoa. Tổng cộng, di sản của ông gồm khoảng 18 công trình và chuyên đề chủ yếu được viết bằng tiếng Việt.

Nhưng ông vẫn lo sách sẽ không đến được với người đọc.

Nguyễn Văn Ngọc mở Vĩnh Hưng Long thư quán tại số 51 phố Hàng Đường, Hà Nội, chủ yếu để giới thiệu và phát hành những cuốn sách do mình biên soạn. Người thầy không chỉ viết sách mà còn tìm con đường đưa sách đến với học sinh và công chúng.

Ông cũng góp phần thành lập Sán Nhiên Đài, một trong những rạp chèo đầu tiên được tổ chức theo kiểu sân khấu hộp tại Hà Nội. Với ông, bảo tồn văn hóa không chỉ là đặt câu chữ vào sách; những làn điệu và hình thức trình diễn truyền thống cũng cần có không gian để tiếp tục sống.

Năm 1934, khi làm Đốc học Hà Đông, Nguyễn Văn Ngọc tham gia vận động thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ và góp sức xây dựng chùa Quán Sứ thành hội quán trung ương. Hoạt động ấy tiếp tục phản ánh mong muốn gìn giữ, chỉnh lý và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng.

Nguyễn Văn Ngọc qua đời ngày 26/4/1942, khi mới 52 tuổi.

Ông không sống đến ngày đất nước giành được độc lập. Nhưng những cuốn sách ông để lại đã góp phần xây dựng nền tảng để tiếng Việt và văn học dân tộc bước vào nhà trường, thư viện và đời sống xuất bản hiện đại.

Ngày nay, nhiều câu tục ngữ, ca dao trong công trình của ông vẫn được học sinh đọc và sử dụng. Có em không biết tên người đã ghi chép chúng. Điều ấy dường như phù hợp với công việc của Nguyễn Văn Ngọc: âm thầm đứng phía sau để tiếng nói của nhân dân được đi về phía trước.

Ông không sáng tác ra những câu tục ngữ ấy. Ông chỉ giúp chúng không bị lãng quên.

Nhờ người thầy kiên nhẫn đi tìm lời ăn tiếng nói ngoài thôn xóm, những tiếng nói tưởng mong manh đã bước lên trang giấy và ở lại với nhiều thế hệ người Việt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn