Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ông Ama H’Oanh - 120 người vào thị xã sau tiếng súng rạng sáng

Lời kể/ký ức của ông Ama H’Oanh, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Phó Bí thư Thị ủy, phụ trách đội công tác chính trị thị xã Buôn Ma Thuột, về quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị trong nội thị và những ngày đầu tiến vào Buôn Ma Thuột sau trận đánh ngày 10/3/1975.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 4 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của ông Ama H’Oanh, chiến thắng Buôn Ma Thuột không chỉ bắt đầu từ tiếng pháo rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975. Nó bắt đầu sớm hơn, từ những cuộc họp rất kín, từ việc rà soát từng cơ sở trong nội thị, từng đảng viên nằm vùng, từng gia đình quần chúng tốt, từng người có thể giao nhiệm vụ khi thời cơ đến.

Đầu năm 1975, khi Trung ương chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm và chọn Buôn Ma Thuột làm điểm mở đầu, Tỉnh ủy Đắk Lắk hiểu rằng nhiệm vụ đặt ra không chỉ là chờ bộ đội chủ lực tiến công. Nếu muốn giải phóng Buôn Ma Thuột trọn vẹn, lực lượng chính trị tại chỗ phải nổi dậy kịp thời, phải phối hợp với mũi quân sự, phải làm cho nhân dân hiểu, tin và tham gia vào thời khắc quyết định.

Tháng 2 năm 1975, đồng chí Bùi Sang, thường gọi là anh Chín Liêm, đại diện Thường vụ Khu ủy Khu 5 vào làm việc trực tiếp với Tỉnh ủy Đắk Lắk. Tinh thần được truyền đạt rất rõ: lần này phải tấn công toàn diện, trọng điểm mở đầu là Tây Nguyên, mà điểm đánh then chốt là Buôn Ma Thuột. Địa phương phải huy động được lực lượng tại chỗ về mọi mặt, đặc biệt phải tổ chức được quần chúng nổi dậy phối hợp với bộ đội chủ lực. Ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận phải đi cùng nhau, không thể tách rời.

Với ông Ama H’Oanh, lúc ấy phụ trách đội công tác chính trị thị xã Buôn Ma Thuột, nhiệm vụ khó nhất là chuẩn bị lực lượng mà vẫn giữ được bí mật đến phút cuối. Sau Mậu Thân 1968, nhiều cán bộ, đảng viên và cơ sở trong dân nội thị từng bị địch bắt, giam ở Buôn Ma Thuột rồi đưa xuống quân lao Nha Trang. Một số người sau nhiều năm bị giam đã được thả về. Họ sống lặng lẽ giữa thị xã, chờ thời cơ, giữ liên lạc, âm thầm đoàn kết với bà con xung quanh.

Chính lực lượng ấy trở thành điểm tựa quý giá. Ông Ama H’Oanh cùng đồng chí, đồng đội phải rà soát lại từng người. Ai còn trung thành. Ai ở số nhà nào. Ai có thể nhận nhiệm vụ. Ai có thể dẫn đường. Ai có thể liên lạc với gia đình có người trong bộ máy chính quyền cũ, trong phòng vệ dân sự, trong quân đội Sài Gòn. Công việc tưởng như rất nhỏ nhưng đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Giao nhầm người có thể lộ cả kế hoạch. Bỏ sót người tốt có thể làm mất một mắt xích quan trọng trong giờ nổi dậy.

Không chỉ trong nội thị, lực lượng ở các dinh điền, đồn điền và các xã đã giải phóng hoặc tranh chấp mạnh cũng được rà soát. Những cán bộ đang công tác trong rừng, kể cả các em liên lạc dưới 17 tuổi, cũng được chọn vào lực lượng chuẩn bị. Tờ truyền đơn của Mặt trận, lời kêu gọi binh lính, sĩ quan, các chức sắc tôn giáo và đồng bào trong thị xã được soạn sẵn. Tất cả chờ giờ hành động.

Đêm trước ngày nổ súng, không khí trong rừng phía bắc Buôn Ma Thuột rất căng. Những người trong đội công tác chính trị không phải lực lượng trực tiếp đánh chiếm các căn cứ địch, nhưng họ hiểu rằng ngay sau tiếng súng, mình phải có mặt. Bộ đội có thể đánh đổ hệ thống quân sự của địch, nhưng để thị xã thật sự thuộc về cách mạng, phải có người xuống từng khu phố, từng nhà cơ sở, từng nơi dân còn hoang mang để giải thích, vận động, trấn an và tổ chức quần chúng.

Đúng 0 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975, trong nội thị, đặc công nổ bộc phá ở sân bay. Ngay sau đó, địch cũng nổ súng. Pháo của ta từ bên ngoài bắn vào rền trời. Buôn Ma Thuột rung chuyển trong đêm. Với những người đang bám theo đội hình phía sau bộ đội chủ lực, đó là thời khắc không thể quên. Tiếng súng báo rằng trận đánh đã bắt đầu; cũng báo rằng mọi chuẩn bị bí mật bấy lâu đã bước vào thử thách thật sự.

Từ cánh bắc, đội công tác chính trị của ông Ama H’Oanh bám theo bộ đội chủ lực Trung đoàn 148, Sư đoàn 316. Xe tăng, xe cơ giới của bộ đội đi trước. Phía sau, đội công tác chính trị có hai chiếc xe lấy được của địch, chở khoảng 120 anh chị em tiến vào. Con số 120 ấy không lớn so với đội hình chiến dịch, nhưng trong nhiệm vụ chính trị nội thị, đó là một lực lượng rất quan trọng. Mỗi người trong số họ khi vào thị xã sẽ tỏa xuống cơ sở, tìm đến những địa chỉ đã chuẩn bị, tiếp xúc với nhân dân, giải thích tình hình và phát động quần chúng.

Sáng sớm ngày 12 tháng 3, đại bộ phận lực lượng bắt đầu tỏa ra tới các nhà cơ sở, nhà đảng viên trung kiên và quần chúng tốt. Họ gõ cửa những căn nhà đã được ghi nhớ trong kế hoạch. Có nơi người trong nhà mừng rơi nước mắt. Có nơi dân còn dè dặt vì chưa biết cục diện sẽ đi đến đâu. Có nơi cả gia đình vừa lo tiếng súng, vừa muốn biết chính quyền cách mạng sẽ làm gì. Những cán bộ chính trị phải giải thích rõ: lần này cách mạng quyết giải phóng, làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi nhân dân hiểu, lực lượng chính trị giao nhiệm vụ cho từng cơ sở. Ai có thân nhân, bà con làm trong bộ máy chính quyền cũ thì tìm cách thuyết phục họ ra trình diện. Ai có con em trong phòng vệ dân sự hoặc quân đội Sài Gòn thì vận động buông súng, trở về. Ai biết nơi còn ổ đề kháng, người trốn tránh, vũ khí cất giấu thì báo bí mật cho đội công tác để đến thuyết phục; trường hợp cần thiết mới dùng biện pháp chiến đấu. Nhờ vậy, sự nổi dậy của quần chúng diễn ra rộng rãi và hiệu quả.

Trong những ngày ấy, Buôn Ma Thuột vừa có niềm vui, vừa còn đầy bất trắc. Bộ đội đánh chiếm mục tiêu này, lực lượng chính trị phải tổ chức quản lý mục tiêu ấy. Công sở, trường học, đường phố, khu dân cư, kho tàng, nơi nào địch bỏ lại đều cần người chiếm lĩnh, bảo vệ, quản lý. Cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng được treo lên trên nhiều nóc nhà, công sở, trường học. Người dân, bộ đội, cán bộ gặp nhau giữa những con đường còn khói súng, vừa mừng, vừa xúc động, vừa khẩn trương bắt tay vào việc.

Ông Ama H’Oanh nhớ rất rõ sức mạnh của nhân dân trong giờ phút ấy. Thanh niên làm nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội. Học sinh tham gia canh gác công sở, giữ trật tự đường phố. Phụ nữ nấu ăn, cứu chữa thương binh. Người dân ở từng khu phố, từng buôn làng góp sức theo cách của mình. Có người chỉ dẫn nơi địch còn lẩn trốn. Có người vận động người thân ra trình diện. Có người giúp bảo vệ tài sản chung, không để hỗn loạn sau khi bộ máy cũ tan rã.

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Ủy ban Quân quản ra mắt tại đình Lạc Giao. Cụ Y Blốk Êban đứng ra tuyên bố Ủy ban Quân quản quản lý thị xã Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắk Lắk. Đó là một mốc rất quan trọng. Sau tiếng súng chiến thắng, chính quyền cách mạng chính thức hiện diện công khai trước nhân dân. Từ đây, nhiệm vụ không chỉ là giải phóng, mà là ổn định, quản lý, khôi phục đời sống, bảo vệ an ninh, đưa bà con chạy lánh cư trở về buôn làng và tạo niềm tin vào trật tự mới.

Câu chuyện của ông Ama H’Oanh vì thế không phải câu chuyện ở mũi xung phong quân sự, mà là câu chuyện ở mũi chính trị, mũi vận động quần chúng. Nó cho thấy chiến thắng Buôn Ma Thuột không chỉ được làm nên bởi xe tăng, pháo binh, đặc công, bộ binh chủ lực. Chiến thắng ấy còn được làm nên bởi những người âm thầm trong nội thị, bởi đảng viên nằm vùng, cơ sở trung kiên, thanh niên, học sinh, phụ nữ, cán bộ liên lạc và đội công tác chính trị đi sau đội hình chiến đấu để biến thắng lợi quân sự thành thắng lợi của nhân dân.

Nhiều năm sau, khi nhắc lại những ngày ấy, ông Ama H’Oanh không chỉ kể về tiếng súng rạng sáng 10 tháng 3. Ông kể về công việc chuẩn bị từng con người, từng căn nhà, từng đường phố. Ông kể về 120 anh chị em đi trên hai chiếc xe thu được của địch, bám theo bộ đội chủ lực để vào thị xã. Ông kể về những người dân đã chờ đợi trong lặng lẽ, rồi khi thời cơ đến đã đứng lên, vận động người thân, bảo vệ công sở, giữ trật tự, cứu thương binh, góp sức xây dựng chính quyền cách mạng.

Qua lời kể ấy, Buôn Ma Thuột không chỉ hiện lên như một “đòn điểm huyệt” chiến lược trên bản đồ chiến dịch. Buôn Ma Thuột còn hiện lên như một thị xã có con người, có tâm trạng, có nỗi lo, niềm vui và sự chuyển mình rất thật. Lịch sử ở đó không chỉ là giờ nổ súng, mà còn là giây phút người cán bộ chính trị gõ cửa nhà cơ sở, là lời giải thích với bà con, là tiếng gọi người trong bộ máy cũ ra trình diện, là lá cờ được treo lên trên mái nhà, là niềm tin của nhân dân khi nhận ra thị xã đã thật sự bước sang một ngày mới.

Câu chuyện “120 người vào thị xã sau tiếng súng rạng sáng” vì vậy là câu chuyện về phần việc âm thầm nhưng không thể thiếu của chiến thắng Buôn Ma Thuột. Nó nhắc người đọc rằng trong mọi chiến thắng lớn, luôn có những con người lặng lẽ chuẩn bị từ trước, đi vào sau tiếng súng, làm công việc nối giữa chiến trường và đời sống. Chính họ giúp chiến thắng không chỉ dừng lại ở việc chiếm mục tiêu quân sự, mà trở thành sự đổi đời của nhân dân.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ VOV: ông Ama H’Oanh, tên khai sinh Tô Tấn Tài, là nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Phó Bí thư Thị ủy kiêm phụ trách đội công tác chính trị thị xã Buôn Ma Thuột; ông kể đầu năm 1975 Trung ương chọn Tây Nguyên, trọng điểm là Buôn Ma Thuột, và yêu cầu địa phương huy động lực lượng tại chỗ, phát động quần chúng nổi dậy phối hợp với bộ đội chủ lực.

Các chi tiết về lực lượng cơ sở trong nội thị, việc rà soát từng đảng viên, từng nhà cơ sở, soạn truyền đơn, lời kêu gọi và tổ chức 120 người trên hai xe bám theo Trung đoàn 148, Sư đoàn 316 vào Buôn Ma Thuột được đối chiếu từ cuộc phỏng vấn ông Ama H’Oanh trên VOV.

Nguồn TTXVN và Bảo tàng Đắk Lắk xác nhận sau khi thị xã được giải phóng, đội công tác chính trị do đồng chí Tô Tấn Tài, tức Ama H’Oanh, phụ trách đã tiến vào thị xã, liên lạc với cơ sở cũ, vận động nhân dân nổi dậy, kêu gọi bà con trở về buôn làng; ngày 18/3/1975, Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột ra mắt tại đình Lạc Giao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn