“ÔNG BA NINH “ NGƯỜI ANH HÙNG MIỀN ĐÔNG
“ÔNG BA NINH “ NGƯỜI ANH HÙNG MIỀN ĐÔNG
Ông là Đỗ Văn Ninh sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở thôn Đọ Xá, phường Ninh Xá, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc,( Nay Phố Đọ Xã , Phường Ninh Xá, Thành Phố Bắc Ninh , tỉnh Bắc Ninh ) nhập ngũ tháng 8 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là thiếu tá, trung đoàn trưởng trung đoàn Đặc công 113 ( nay là Lữ đoàn Đặc công 113) , Bộ tư lệnh Đặc CôngCÂU CHUYỆN TRƯỚC 30/04/1975.Từ tháng 8 năm 1967 đến tháng 4 năm 1975, Đỗ Văn Ninh chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt 3.000 tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh quan trọng như máy bay, xe tăng, kho vũ khí, bom đạn... Riêng đồng chí diệt 80 tên Mỹ, đánh sập 7 nhà lính, 3 nhà kho, nhiều lô cốt và hầm ngầm. Ngày 4 tháng 7 năm 1968, đánh căn cứ lữ đoàn 3 ngụy ở Dầu Tiếng, Đỗ Văn Ninh vượt qua 7 lớp rào vào trinh sát. Khi nổ súng đồng chí đã dẫn đầu mũi cắt rào, gỡ mìn, tạo cửa mở cho đơn vị đánh thẳng vào trung tâm, diệt các mục tiêu. Lúc lui quân, hai lần gặp địch ngăn chặn, Đỗ Văn Ninh chỉ huy đơn vị chiến đấu quyết liệt và rút ra an toàn. Kết quả trận đánh: đã diệt 2 trung đội Mỹ, 16 hầm ngầm và lô cốt, phá 2 nhà tầng, 4 xe. Riêng đồng chí diệt 5 tên Mỹ, phá hủy 5 hầm ngầm và lô cốt. Đầu năm 1969, Đỗ Văn Ninh chỉ huy đại đội đánh căn cứ Dầu Tiếng lần thứ hai, diệt được sở chỉ huy lữ đoàn địch, phá hủy 2 khu thông tin. Đồng chí trực tiếp đánh sập 4 lô cốt, hầm ngầm, 1 nhà kho, 3 nhà ngủ. Ngày 12 tháng 5 năm 1969, đánh căn cứ Tếch Ních (Bình Long), Đỗ Văn Ninh đã 7 ngày đêm đi trinh sát; đến khi đánh, bản thân trực tiếp dẫn 4 mũi tiến vào vị trí chiến đấu rồi mới về vị trí chỉ huy. Kết quả, tiểu đoàn do đồng chí chỉ huy đã diệt sở chỉ huy lữ đoàn 1 (trên 500 tên, có 1 đại tá Mỹ), phá hủy 13 khẩu pháo và nhiều lô cốt, hầm ngầm.Trận tập kích Tổng kho Long Bình đêm 13/8/1972.Sinh thời Anh hùng Đỗ Văn Ninh kể lại: “Tổng kho Long Bình nằm trên hướng Đông Bắc Sài Gòn, gồm một dãy 16 quả đồi, nối tiếp nhau theo hình cánh cung, bao quanh thị xã Biên Hòa, có diện tích 24 km2. Phía Tây Nam có sông Đồng Nai, phía Đông Bắc có sông Buông. Sau khi nhận lệnh đột nhập Tổng kho Long Bình, Trung đoàn 113 tổ chức 3 mũi trinh sát (mỗi mũi có 4 đến 5 người) nghiên cứu sơ đồ, địa hình, căn cứ, lực lượng của địch. Sau 3 ngày, các trinh sát nắm bắt được, tại đây Mỹ hình thành 4 khu: Khu A chứa hàng quân tiếp vụ; khu B chứa thiết bị quân sự và thiết bị thông tin liên lạc; khu C đặt Sở Chỉ huy tiểu khu Long Bình; khu D gồm 2 khu kho 50 và 53 chứa đạn. Do tính chất chiến lược đặc biệt quan trọng, tổng kho được bảo vệ nghiêm ngặt. Những tổ trinh sát của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận vào bên trong bởi nhiều hàng rào phức tạp, từ ngoài vào trong, nhất là hàng rào thứ 9. Đây là hàng rào làm bằng loại thép to, chắc và cứng (không thể dùng kéo cắt) được hàn lại với nhau, khác xa so với các loại rào chắn thông thường. Hàng rào này có tên là “mắt cáo”. Các múi hàn tạo ra một góc khoảng 45o, hai thanh thép chắc tạo ra góc ấy cũng chính là điểm tựa để chúng tôi dùng phương pháp đòn bẩy bật múi hàn ra. Khi người chui qua, “mắt cáo” được khép lại như cũ, địch khó phát hiện”.Ban ngày các trinh sát nằm trú ẩn trong các căn cứ địch và khi màn đêm buông xuống, họ lại tiếp tục nghiên cứu chi tiết từng kho và cách canh gác, tuần tiễu của địch. Càng vào sâu, tình huống đặt ra càng khó khăn, phức tạp. Điểm cuối cùng là kho tập kết vũ khí, nhưng tất cả các cửa kho, địch khóa bằng một loại khóa đặc biệt. Để giải quyết vấn đề này, Tham mưu phó Đỗ Văn Ninh chỉ huy một mũi trinh sát vào nghiên cứu, tìm cách mở khóa để chiến sỹ ta đưa vũ khí lọt vào trong kho gài đặt đúng vị trí hiểm yếu nhất.Trên cơ sở nắm chắc tình hình địch, Trung đoàn 113, do các đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng và Đỗ Văn Ninh, Tham mưu phó Trung đoàn 113 trực tiếp chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm mục tiêu phá hủy bí mật theo 4 bước: Bước 1 cắt rào; bước 2 mở khóa; bước 3 đặt bom nổ chậm; bước 4 rời nhanh khỏi trận địa. Lực lượng tham gia gồm 57 cán bộ, chiến sỹ, chia làm 2 bộ phận trực tiếp đánh nội tuyến và bảo vệ hành lang. Vũ khí trang bị gồm 220 quả bộc phá gắn ngòi nổ hẹn giờ, dụng cụ cưa khóa, mở cửa kho…Đại tá Đỗ Văn Ninh nhớ lại: “Đêm 12-8-1972, các cán bộ, chiến sỹ tham gia trận đánh do tôi và anh Nguyễn Thanh Tùng Trung đoàn trưởng chỉ huy vào khu vực Tổng kho Long Bình. Rất may, đêm đó địch cho mở cửa xả hơi thông gió các dãy kho. Các chiến sỹ của ta nhanh chóng áp sát mục tiêu cài đặt mìn các kho. Đúng 4 giờ sáng ngày 13-8, bộc phá phát nổ. Ở giữa căn cứ Long Bình, những tia chớp xanh lè vọt lên trên nền trời cao rộng, những đám lửa đỏ ngầu, cuồn cuộn bốc lên sáng rực một vùng trời. Cả thị xã Biên Hòa rung lên như động đất. Trong tiếng nổ đanh, giòn của đủ loại bom đạn, quân địch nháo nhác, hoảng loạn và bất lực, chỉ biết nhìn kho dự trữ chiến lược chìm trong biển lửa”• Ngay tối hôm ấy (14-8-1972 ) đài BBC đưa tin: “Phân khu 53 tổng kho Long Bình bị quân cảm tử đặc công Việt cộng luồn sâu đặt mìn, phá huỷ trên 6.000 tấn bom đạn. Trên thực tế vượt rất xa khối lượng mà đối phương thừa nhận.. Kết quả, quân ta phá huỷ 200 kho, 17 dãy nhà, thiêu huỷ 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu, 200 tấn chất nổ, diệt và làm bị thương 300 quân địch. Toàn bộ cán bộ, chiến sỹ ta rút về an toàn trong niềm vui khôn xiết của nhân dân vùng hậu cứ đón những người con chiến thắng trở về.Chỉ có một đội viên tên Trần Xuân Thưởng, quê Thanh Hoá đi lạc đội hình nên bị địch bắt. Nhưng anh không hề khai báo gì, sau đó chúng đày ra đảo Phú Quốc, đầu năm 1973 được trao trả tại Lộc Ninh.Đánh kho Bom Bình ÝTháng 3 năm 1975, Đoàn 113 nhận lệnh đánh bằng được vào phía Đông của sân bay Biên Hòa, đánh phá kho bom Bình Ý và hướng dẫn cho pháo chiến dịch vào điểm xây dựng trận địa. Trong các nhiệm vụ ấy, việc phá kho bom Bình Ý để địch không còn bom đánh phá quân ta là cực khó bởi địch tập trung bố trí phòng vệ rất cẩn mật.“Nhiều tổ trinh sát của chúng tôi khi đó không tiếp cận được bên trong kho bom bởi nhiều hàng rào phức tạp. Chúng tôi đào hầm, ăn nghỉ ngoài rào để đợi đến đêm sẽ vào trong đánh phá nhưng không được,” ông Ninh kể.Khó khăn là vậy, nhưng cấp trên lại lệnh cho Đoàn 113 phải khẩn trương đánh kho bom cho kỳ được, thậm chí là dùng cách đánh của bộ binh. Sau khi bàn bạc với Chính ủy, ông Ninh đã quyết định báo cáo không thể đánh theo cách bộ binh bởi như vậy sẽ bị lộ và nhiều khả năng địch sẽ tập trung hỏa lực tiêu diệt cả Trung đoàn. Sau đó, ông xin gia hạn thêm 7 ngày để nghĩ cách phá kho bom.Sau khi tìm hiểu kỹ địa hình, sơ đồ tác chiến…, ông Ninh đã cử một tổ gồm 5 chiến sĩ đặc công vượt sông Đồng Nai để tiếp cận với kho bom.''Đánh kho bom Bình Ý do đại đội 53 trinh sát của Trung đoàn đảm nhiệm, nhưng lực lượng đánh trực tiếp chỉ cần một tổ ba người do đồng chí Hồ Văn Sinh chỉ huy (đồng chí Sinh sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang) chứ không dùng tới hai tiểu đoàn như lúc đầu sư đoàn giao cho Trung đoàn Đặc Công 113.Đánh kho, nhất là trong điều kiện đó, phương thức hiệu nghiệm nhất vẫn là dùng mật tập, bằng kỹ thuật đặc công. Lối đánh này tiết kiệm được rất nhiều lực lượng mà lúc ấy lực lượng càng dôi ra nhiều càng tốt vì khối lượng công việc rất lớn. Trên cơ sở nắm chắc địch tình và địa hình, tổ trinh sát ba người: Sinh, Quỳnh, Lương lại làm nên chuyện bất ngờ trong lúc quân địch đang hoang mang, bối rối. Tiếng nổ của các đồng chí đã đánh chí tử vào chỗ mạnh của địch là vũ khí. 250.000 tấn bom đạn bị nổ, những bồn xăng bị cháy sáng rực một góc trời. Cú đánh bồi này gây hiệu quả rất lớn, càng dồn quân địch vào thế bí vốn đã rất bí.''Tháng 4-1975, Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh đánh vào Thiết đoàn cơ giới Hốc Bà Thức, chốt giữ một đoạn của xa lộ Biên Hòa và đánh giữ cầu Ghềnh-một trong những cây cầu huyết mạch tiến về Sài Gòn.Kế hoạch tác chiến được vạch ra, các chiến sĩ đã di chuyển tới các vị trí chiến đấu thì Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh không đánh kho Di An, không được phá cầu mà phải đánh-giữ cầu Ghềnh chờ Đại quân tiến vào Sài Gòn.Bản thân ông Ninh vào đêm 28-4 dẫn quân đánh chiếm căn cứ Hốc Bà Thức, bắt được Đại tá chỉ huy Thiết đoàn của địch và hơn 30 tên lính. Sau khi đánh xong, lập tức ông chỉ huy cho các chiến sĩ phòng ngự tới sáng 29, địch điên cuồng dùng máy bay, xe tăng tấn công hòng lấy lại căn cứ. Tuy nhiên, trước sự quyết liệt của các chiến sĩ đặc công, chúng đã điên cuồng đánh bom phá hủy chính căn cứ của mình.Giữ cầu, bắc nhịp để đại quân giành chiến thắng.Nhiều trận đánh vang dội, nhưng có lẽ chiến công quan trọng nhất góp phần vào đại thắng 45 năm về trước của đặc công chính là việc đánh giữ 14 cây cầu huyết mạch vào Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Việc này tạo điều kiện thuận lợi để 5 cánh quân thần tốc tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn, đánh thẳng vào cơ quan đầu não địch.Về trận cầu Ghềnh, ông Ninh kể rằng, nhiệm vụ của đặc công trước kia thường đi… đánh, phá và công việc này được hoàn thành dễ dàng. Song, nhiệm vụ đi “đánh, chiếm, giữ” quả thật nặng nề. Để hoàn thành nhiệm vụ, đặc công phải tiêu diệt toàn bộ giặc trên cầu vào ban đêm một cách nhanh gọn.Tuy đã diệt địch, nhưng đại quân vẫn chưa tới nên khi đã chiếm được cầu Ghềnh vào đêm 27, rạng sáng 28 thì tới cả ngày 28 và ngày 29, địch tổ chức nhiều đợt tấn công hòng cướp lại cây cầu huyết mạch.Trước hỏa lực cực mạnh của quân thù, 50/52 chiến sĩ đặc công đã anh dũng hy sinh, song không ai vì thế mà rút khỏi trận địa. Cuối cùng, khi đại quân tiến vào, địch buộc phải rút chạy và nhiệm vụ bảo vệ cầu Ghềnh đã hoàn thành rực rỡ.“Đặc công đánh và giữ cầu, song lại không thể biết khi nào đại quân tiến vào để có sự chuẩn bị hợp lý hơn,” ông Ninh trầm buồn khi nghĩ tới những người đồng đội đã ngã xuống trước thềm chiến thắng.GIẢI PHÓNG PHNÔM PÊNHTham gia chiến dịch giải phóng Cam-pu-chia, đại bộ phận Trung đoàn 113 tập kết ở Hồng Ngự (Đồng Tháp) để đánh theo sông Mê Công vào Phnôm Pênh. Tiểu đoàn 198 được lệnh về Bến Sỏi (Tây Ninh) sẵn sàng tiến công vào Phnôm Pênh trên đường bộ.Chuẩn bị cho Trung đoàn 113 tham gia chiến dịch giải phóng Cam-pu-chia, Bộ tư lệnh Đặc công tăng cường Tiểu đoàn 5 (đặc công nước) cho trung đoàn. Ngày 1 tháng 1 năm 1979, toàn trung đoàn hành quân về xã An Long, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tăng cường cho Quân đoàn 4.Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các tiểu đoàn 27, 9, 5, các đại đội trực thuộc và cơ quan. Ban chỉ huy của trung đoàn lúc này gồm ông : Đỗ Văn Ninh - Trung đoàn trưởng; Nguyễn Quốc Sử - Chính ủy.Trưa ngày 7 tháng 1, đội hình tiến công đến bến phà Niệc Lương gặp Quân đoàn 4. Tư lệnh Quân đoàn 4 triệu tập các đơn vị tiến công vào Phnôm Pênh để giao nhiệm vụ : Sư đoàn bộ binh 7 đánh theo đường bộ, Trung đoàn đặc công 113 đánh theo đường sông vào Phnôm Pênh. Đến giữa chiều ngày 7 tháng 1, trung đoàn đến Phnôm Pênh.Sau khi chiếm được Phnôm Pênh, Quân đoàn 4 chỉ thị cho Trung đoàn 113 đánh căn cứ hải quân Hoàng Gia Cam-pu-chia ở đông Phnôm Pênh, đánh chiếm trận địa pháo phòng không ở đảo Cót Đách, phát triển tiến công đánh chiếm huyện Preah Vihear sau đó chuyển sang làm công tác vận động quần chúng, xây dựng chính quyền, truy quét địch.Một vinh dự lớn đối với ông lúc đó là chỉ huy Trung đoàn 113 được tham gia bảo vệ các phái đoàn của Đảng và Chính phủ ta do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng TMT,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sang thăm Cam-pu-chia.Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chiến tranh biên giới phía bắc Việt Nam bùng nổ. Bộ điều động Tiểu đoàn 27 trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Đến đầu tháng 6, trung đoàn Dặc công 113 rút về nước . Tháng 3/1979 ông về nhận nhiệm vụ tại Bộ tư lệnh Đặc Công giữ cương vị Phó Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh trưởng TMT Binh chủng Đặc Công đến ngày nghỉ hưu năm 1991.Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với chiến trường Miền đông Nam bộ là Chỉ huy lâu nhất của Đoàn Đặc công 113( ( TM phó Trung đoàn năm 1972-1973, Trung đoàn phó 1973-1976, Trung đoàn trưởng 1976-1979).Tôi may mắn được gặp ông nhiều lần , được nghe ông kể nhiều câu chuyện thời Đặc công 429 rồi Đặc Công 113 , nhưng tôi nhớ ông hay nhắc tới ông Khuynh Đặc công J16, Đoàn 429 . Tôi đã điện thoại cho cháu Thức( hiện là sỹ quan Lữ đoàn Đặc công 113) con ông Ba Ninh hỏi ông Khuynh là ai được cháu nói Chú Khuynh ở với Bố cháu ( Sau này là Đại tá Vụ trưởng Vụ Pháp Chế Bộ Quốc Phòng ) trên facebook Nick ( Cả Thật ) cháu cho tôi số điện thoại của Đại tá Nguyễn Văn Khuynh . May mắn cho tôi ,Bác Khuynh nghe điện thoại và hẹn gặp tôi tại nhà riêng tại Hà Nội . Tôi mừng và ra Hà Nội gặp được Đại tá Khuynh . Ông kể về người chỉ huy cũ của mình, tôi lại biết thêm nhiều câu chuyện ly kỳ trong chiến đấu thời ông Đỗ Văn Ninh là trung đội phó của Ông Khuynh tại J16 Đặc Công, 429 những trận đánh TecNich , Cà Tum , Dầu Tiếng .. Sau này Bác Khuynh tặng cho tôi nhật ký Đặc công . Tôi đã đăng nhiều kỳ trên trang TTNL , tạp chí VHPT , trang đồng đội Binh chủng Đặc Công .Ngày 06/11/1978 ông Đỗ Văn Ninh được Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ( Cùng phong anh hùng với ông một ngày là người chỉ huy của ông Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng ) .Anh hùng LLVTND Đỗ Văn Ninh. Cuộc đời gắn liền với Miền Đông Nam Bộ , gắn liền Binh Chủng Đặc Công với đoàn Đặc Công J16, 429 , Đặc biệt với Lữ đoàn Đặc công 113. Ba lần anh hùng ( 1975,1979,2000).Ông Ba Ninh mất ngày 20/02/2023.Tại quê nhà Phường Ninh Xá , Thành Phố Bắc Ninh , tỉnh Bắc Ninh .Tôi được con trai ông nhắn lúc 2 giờ sáng . Chú ơi Bố Ninh mất rồi , tôi may mắn bắt xe ôtô kịp ra nhìn mặt Thủ trưởng lần cuối . Người anh hùng Đặc Công Miền Đồng Nam Bộ như các CCB Đặc Công 113 thương gọi ông bằng cái tên rất thân mật “ Ông Ba Ninh “.Chia sẻ về người chỉ huy của mình Đại tá Nguyễn Văn Khuynh viết :Năm 1968-1969 thì tôi quá gần gũi với anh Đỗ Văn Ninh bởi anh từ trung đội phó B3/C47/d6/16 ăn nằm, huấn luyện, chiến đấu với số cs chúng tôi, Sau trận Dàu Tiếng 4/7/1968 anh được tặng HC CC GP rồi lên làm Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, tiểu đoàn phó cùng đơn vị. Tháng 12/1969, D5 đặc công 429 cùng D3, D4 được điều xuống Tây Nam bộ thì chúng tôi mới chia tay vì anh Ninh được Miền điều động ở lại ĐNB để tiếp nhận bộ đội đặc công từ Bắc vào và thành lập các tiểu đoàn mới thay thế d3,d4,d5.Sau giải phóng MN thống nhất đất nước tình cờ anh em gặp nhau khi anh là Phó Tư lệnh TMT bình chủng Đặc công, tuần nào cũng đến SCH BQP trong thành HN giao ban tác chiến, lúc này tôi vừa tốt nghiệp trường luật được điều về đây công tác. Có rất nhiều câu chuyện kỷ niệm với anh Ninh trong thời gian này, cho đến khi anh được nghỉ hưu về sống tại quê nhà. Đến khi ở tuổi trên 80 anh bệnh nặng thì tôi cũng đã trên 70 và vì bệnh lý không đi lại nhiều, anh em tôi chỉ thường xuyên gặp nhau trên điện thoại đi động, khi anh sắp trút hơi thở cuối cùng ở Viện 108 lại đúng thời gian hạn chế tối đa người vào thăm nên tôi chỉ kịp gọi đt để con anh thông báo cho anh biết, thế rồi anh về với Tổ tiên.


