Ông Bằng Giang ở Tây Bắc (p1)
Bằng Giang là tên con sông bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào tỉnh Cao Bằng, quê hương của chàng trai người dân tộc Tày Nguyễn Văn Cơ, tức Trung tướng Bằng Giang (1915-1990), nguyên Phó tổng Thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh đầu tiên của Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2).
“Ma xó” ở Tây Bắc
Sinh ra tại bản Thắc Tháy, xã Đức Long, châu Hòa An, tỉnh Cao Bằng, 17 tuổi Nguyễn Văn Cơ đã tích cực tham gia các hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản xã Đức Long. Trong cao trào cách mạng 1930-1931, sự ra đời của chi bộ đảng ở các xã thuộc châu Hòa An đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Cơ. Tháng 3-1935, vừa tròn 20 tuổi, anh được kết nạp Đảng ngay trên quê hương với bí danh Nguyễn Bằng Giang, thường gọi là Bằng Giang. Lúc sinh thời, Trung tướng Bằng Giang từng chia sẻ, khi tham gia cách mạng, vì luôn nhớ về dòng sông gắn liền với những năm tháng tuổi thơ của mình nên ông đã chọn bí danh là Bằng Giang để hoạt động.
Được đứng trong hàng ngũ của Đảng, đồng chí Bằng Giang càng nhiệt tình tham gia các tổ chức đoàn thể cứu quốc. Tháng 1-1941, đồng chí là Tỉnh ủy viên, được giao đảm trách công tác giao thông. Theo một số tài liệu lưu trữ của tỉnh Cao Bằng, với bí danh là Lan, Bằng Giang được giao phụ trách dẫn đường trong đoàn ở phía Việt Nam đón Bác Hồ về nước tại cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) biên giới Việt Nam-Trung Quốc ngày 28-1-1941. Khi Bác Hồ làm việc tại hang Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), mỗi khi đi đánh cá hay đi săn bắt được thú rừng, Bằng Giang lại mang vào biếu Bác. Chuyện này khi còn sống, ông Chu Văn Tấn từng nhắc đến trong một số dịp gặp mặt kỷ niệm thành lập Trung đội Cứu quốc quân 2: “Tôi nhiều lần thấy Bằng Giang lúc hôm sớm, cả khi sẩm tối đi vào hang Pác Bó rồi ra ở một hướng khác nhẹ như mèo. Bằng Giang đúng là “ma xó” ở Tây Bắc đó!”.
|
Trung tướng Bằng Giang . Ảnh tư liệu |
Tháng 4-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho thư ký Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ Cao Bằng tại xóm Goọc Mu, thôn Pác Bó để rút kinh nghiệm và nhân rộng phong trào Việt Minh ra các địa bàn trong tỉnh Cao Bằng. Châu Hòa An có 4 đại biểu được mời dự, trong đó có đồng chí Bằng Giang. Tại cuộc họp, đồng chí bày tỏ quyết tâm theo Đảng, theo Bác và xin nhận nhiệm vụ trước mắt là mở rộng cơ sở đảng trong đồng bào dân tộc Tày ở tỉnh nhà.
Với tinh thần nhiệt huyết cách mạng, dám nghĩ, dám làm, đồng chí là cán bộ chủ chốt, mẫn cán, nhiệt tình, trách nhiệm trong công tác, được mọi người tin tưởng, quý mến. Đến tháng 1-1943, đồng chí Bằng Giang là Ủy viên Ban Thường vụ liên Tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng, phụ trách công tác binh vận; một năm sau là Tỉnh ủy viên, phụ trách công tác quân sự của tỉnh Cao Bằng. Năm 1944, đồng chí Bằng Giang chính thức nhập ngũ, trở thành Bộ đội Cụ Hồ. Từ đây, với tài năng và sự hiểu biết của mình về vùng đất, con người Tây Bắc, ông đã có những đóng góp quan trọng trong nhiều chiến dịch lớn được mở trên địa bàn trọng yếu này, như: Chiến dịch Lý Thường Kiệt (1951), Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chiến dịch Thu Đông (1952)... và đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trên cương vị Khu trưởng Khu 10 (Khu Tây Bắc) đồng chí đã được Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao đảm trách hướng trọng yếu. Khi mở Chiến dịch Tây Bắc, với sự tin tưởng dành cho Khu trưởng Bằng Giang, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao cho ông chỉ huy cánh quân thọc sâu, “có thể coi là một chủ trương mạo hiểm” là: Sau khi giải phóng Tuần Giáo, đánh về Thuận Châu để phối hợp với hướng chính, sẽ tách ra một tiểu đoàn cùng với một phân đội pháo mở một mũi vu hồi nhanh chóng tiến vào giải phóng Điện Biên Phủ... (theo "Tổng tập hồi ký" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, NXB Quân đội nhân dân, 2006).
"Anh Giang là một người dân tộc Tày rất thực và ngay thẳng, anh em rất quý mến. Cứ nhìn thấy Bằng Giang đến là ai cũng tay bắt mặt mừng, muốn kéo về phòng mình trò chuyện vui vẻ, không phân biệt cấp bậc" (Trung tướng Khuất Duy Tiến). |
Còn nhớ, khi ta mở Chiến dịch Trần Đình (mật danh của Chiến dịch Điện Biên Phủ), có một giai đoạn việc tiếp tế lương thực từ đồng bằng lên chưa bảo đảm kịp cho chiến dịch. Vấn đề trước mắt lúc này là cần huy động gấp hậu cần tại chỗ để bộ đội "ăn no, đánh thắng". Mặc dù chưa có chỉ đạo của cấp trên nhưng Khu trưởng Bằng Giang đã trực tiếp dẫn theo hai đồng chí cưỡi ngựa đến khu vực giáp biên giới 3 nước Việt Nam-Lào-Trung Quốc để vận động quần chúng. Ông biết rõ ở đây là “vựa lúa” của Tây Bắc thời bấy giờ. Được sự tin tưởng của đồng bào nên không mất nhiều thời gian thuyết phục, chỉ với lời nói “cho Chính phủ Cụ Hồ vay để đánh Pháp”, đồng chí đã huy động được gần 7 tấn thóc phục vụ kháng chiến. “Chúng tôi không biết cụ thể bằng cách nào mà sau khi nhận được số thóc ấy của nhân dân, đồng chí Bằng Giang đã huy động lực lượng vận chuyển bằng cả đường bộ và đường sông về kho của Tổng cục Cung cấp. Tại sở chỉ huy chiến dịch, nghe báo cáo về số thóc mới nhận, ban đầu anh Văn tưởng là chiến lợi phẩm. Khi biết là do anh Bằng Giang huy động được, anh liền nói với chúng tôi: "Có những người như Bằng Giang, Trần Đình nhất định thắng!”, Đại tá Nguyễn Bội Giong, nguyên phái viên tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nhớ lại.




