Ông Bùi Văn Dào – Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Ông Bùi Văn Dào là cựu chiến binh từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 trong đội hình Tiểu đoàn 80, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Ông trực tiếp chứng kiến những thời khắc lịch sử của chiến thắng và lưu giữ nhiều ký ức sâu sắc về tinh thần chiến đấu, sự hy sinh của đồng đội. Sau khi xuất ngũ, ông tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương và thường xuyên kể lại những câu chuyện Điện Biên cho thế hệ trẻ. Cuộc đời ông là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước, ý chí kiên cường và giá
NGƯỜI LÍNH ĐIỆN BIÊN MANG KÝ ỨC CHIẾN THẮNG THEO SUỐT CUỘC ĐỜI
Trong những ngày tháng Năm lịch sử, khi cả nước hướng về Chiến thắng Điện Biên Phủ, người dân thôn Trường An, xã Hồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh lại tìm đến nhà ông Bùi Văn Dào để nghe kể chuyện chiến trường năm xưa. Ở tuổi ngoài chín mươi, người cựu binh vẫn còn minh mẫn, giọng nói hào sảng mỗi khi nhắc đến những tháng ngày cùng đồng đội làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Ông Bùi Văn Dào sinh năm 1928 trong một gia đình nông dân ở Hồng Lộc. Tuổi thơ của ông gắn liền với những năm tháng đất nước còn dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chính những tháng ngày chứng kiến cảnh cơ cực của người dân đã hun đúc trong ông tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc.
Cuối năm 1949, khi tiếng gọi của Tổ quốc vang lên, chàng trai trẻ Bùi Văn Dào quyết định lên đường nhập ngũ. Điều đặc biệt là thời điểm ấy ông vừa mới cưới vợ được một tháng. Trong bài phỏng vấn với Báo Hà Tĩnh, ông kể lại rằng hôm đang cùng vợ lên núi đốn củi thì nghe tiếng tù và báo tuyển quân từ trong làng vọng ra. Suốt buổi sáng hôm đó, lòng ông không yên. Hiểu được suy nghĩ của chồng, người vợ trẻ động viên ông lên đường làm nhiệm vụ và hứa sẽ thay chồng chăm sóc gia đình. Chính sự động viên ấy đã tiếp thêm sức mạnh để ông khoác ba lô nhập ngũ.
Sau khi trúng tuyển, ông được biên chế vào Tiểu đoàn 80, Trung đoàn Bộ binh 36, Đại đoàn 308 – đơn vị chủ lực nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những năm tiếp theo, ông cùng đơn vị liên tục tham gia nhiều chiến dịch lớn như Biên giới Thu Đông năm 1950, Hòa Bình năm 1951, Tây Bắc năm 1952 và Thượng Lào năm 1953. Những cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở đã rèn luyện ý chí và bản lĩnh của người lính trẻ.
Nhắc đến quãng đời quân ngũ, điều ông nhớ nhất vẫn là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong chiến dịch lịch sử này, đơn vị của ông tham gia tiến công và bao vây tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của thực dân Pháp ở Tây Bắc. Dù nhiều năm đã trôi qua, ký ức về Điện Biên vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người lính già.
Ông kể rằng trong quá trình đào giao thông hào siết chặt vòng vây cứ điểm A1, một quả bom của địch bất ngờ rơi xuống khiến ông bị đất đá vùi lấp. Trong khoảnh khắc cận kề giữa sự sống và cái chết ấy, ông đã may mắn được đồng đội cứu thoát. Đó là một trong những lần đối mặt với hiểm nguy mà ông không bao giờ quên.
Kỷ niệm thứ hai cũng là kỷ niệm thiêng liêng nhất trong cuộc đời người lính là chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954. Khi quân ta tiến vào trung tâm Mường Thanh, ông tận mắt chứng kiến lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries. Tiếng reo hò vang dậy khắp chiến trường báo hiệu chiến thắng đã thuộc về quân và dân Việt Nam. Với ông, đó là khoảnh khắc không thể nào quên, bởi sau chín năm kháng chiến gian khổ, dân tộc Việt Nam đã giành được thắng lợi vang dội trước một đội quân được trang bị hiện đại hơn rất nhiều.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 10 năm 1954, ông cùng đơn vị tiến về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Người cựu binh vẫn nhớ như in hình ảnh nhân dân đứng kín hai bên đường, tay cầm cờ hoa chào đón đoàn quân chiến thắng. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao đối với những người lính vừa bước ra khỏi chiến trường khốc liệt.
Năm 1955, ông còn có cơ hội tham gia duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình và lần đầu tiên được tận mắt nhìn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Kỷ niệm ấy trở thành niềm tự hào mà ông luôn kể lại cho con cháu mỗi khi nhắc về những năm tháng quân ngũ.
Tháng 7 năm 1957, ông xuất ngũ trở về quê hương. Sau chiến tranh, ông tích cực lao động sản xuất, tham gia công tác xã hội và đóng góp cho phong trào địa phương. Dù cuộc sống đã đổi thay, ông vẫn giữ nguyên phẩm chất của người lính Điện Biên năm xưa.
Ngày nay, điều khiến người dân địa phương kính trọng không chỉ là những chiến công trong quá khứ mà còn là tinh thần trách nhiệm của ông đối với thế hệ trẻ. Mỗi dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, ông lại kể cho các em học sinh nghe về những ngày “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, về tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân đội Việt Nam và về giá trị của hòa bình hôm nay.
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm De Castries, nhưng trong trái tim người cựu binh Bùi Văn Dào, ký ức Điện Biên vẫn luôn sống động. Câu chuyện cuộc đời ông là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần hy sinh và ý chí kiên cường của thế hệ đã làm nên một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.



