Ông Burnash Vladimir Ilyich, Đại tá về hưu
Ông Burnash Vladimir Ilyich, Đại tá về hưu, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh toàn Ukraine tham chiến tại nước ngoài, ông đã chia tay người vợ trẻ đang mang thai ở tháng thứ 5 và đến Việt Nam từ tháng 5-1967 đến tháng 5-1968.
Theo dòng hồi tưởng, ông Burnash Vladimir Ilyich kể: Khi đó tôi mang quân hàm Thiếu tá, được cử làm trưởng một nhóm nhỏ các chuyên gia quân sự Liên Xô, được giao nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn là trong thời gian ngắn nhất phải thành lập và tổ chức hoạt động Trường Kỹ thuật vô tuyến cho lực lượng Phòng không- Không quân Việt Nam.
Trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam khi đó đang diễn ra một cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt, và không thể chiến thắng nếu thiếu một hệ thống phòng không hiệu quả. Các phương tiện hỏa lực trong hệ thống đó, như bộ đội tên lửa phòng không và không quân tiêm kích, không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu đi lực lượng kỹ thuật vô tuyến (VTĐ) và các trạm radar của họ. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là huấn luyện các chuyên gia Việt Nam để vận hành radar.
Tầm quan trọng của nhiệm vụ này được thể hiện qua việc người được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng là Trung tá Thái, nguyên là Chỉ huy trưởng lực lượng VTĐ Việt Nam, còn Chính ủy là Trung tá Bích, một cán bộ chính trị có kinh nghiệm. Chúng tôi phối hợp rất tốt với hai vị chỉ huy này, nhưng dù vậy, những khó khăn vẫn vô cùng lớn.
Ban đầu, trường được triển khai ở khu vực gần sát biên giới Trung Quốc. Đã có một số thành quả ban đầu. Nhưng sau khi các cuộc không kích của Mỹ gia tăng, trường buộc phải di dời về phía Tây và phải bắt đầu lại từ con số không.
Khi đó điều kiện làm việc vô cùng khó khăn. Các chuyên gia của chúng tôi chủ yếu được tuyển từ các trường kỹ thuật vô tuyến của Liên Xô, nhưng số lượng quá ít. Trang thiết bị giảng dạy cũng thiếu thốn nghiêm trọng. Học viên thì yếu, khó tiếp cận được công nghệ radar phức tạp.
Trong khi đó điều kiện sinh hoạt của người Việt Nam lẫn chuyên gia Liên Xô, trong hoàn cảnh rừng tre núi đá, vô cùng thiếu thốn. Chỉ riêng việc, mỗi ngày chỉ có điện một giờ vào buổi tối từ máy phát điện, đã đủ nói lên tất cả. Và đó chỉ là một phần trong hàng loạt khó khăn mà chúng tôi gặp phải.
Khi mọi thứ trở nên quá sức chịu đựng, người phiên dịch của tôi (có một cái tên rất thú vị – Inga, nghĩa là “Hải Âu”), mỗi khi thấy tôi suy sụp, lại an ủi và nói: Đừng buồn, đồng chí Burnash. Rồi chiến tranh sẽ kết thúc, chúng tôi sẽ chiến thắng người Mỹ, thống nhất đất nước và nhất định sẽ mời đồng chí quay lại, để thấy đất nước chúng tôi tuyệt vời đến mức nào.
Khi đó, tôi đã nghĩ, người Việt Nam này hẳn là có khả năng tiên tri. Tất nhiên, tôi và tất cả các đồng chí Liên Xô đều rất mong Việt Nam đạt được mục tiêu. Chính vì điều đó mà chúng tôi đến đây, để giúp họ thành công.
Nhưng đồng thời, chúng tôi không thể không đặt câu hỏi: Làm sao có thể đánh bại người Mỹ? Làm sao Mỹ lại cho phép Việt Nam thống nhất? Vì thế, lời tiên đoán của người phiên dịch về việc tôi sẽ quay trở lại Việt Nam sau chiến tranh lúc đó đối với tôi như tan biến trong sương mù.
|
Ông Burnash Vladimir Ilyich. |
Thế nhưng, chính niềm tin mãnh liệt ấy của người Việt, từ mọi tầng lớp, đã giúp chúng tôi vượt qua biết bao khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi.
Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngôi trường kỹ thuật vô tuyến đã được thành lập. Và một bằng chứng rõ ràng cho điều đó là: Trong năm chúng tôi ở Việt Nam, hơn 1.000 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Một kỷ vật đầy ý nghĩa đối với tôi là tấm Giấy khen “Vì đã phối hợp thành công trong công cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược”, được viết trên mảnh xác của một chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, có chữ ký của Hiệu trưởng Trung tá Thái và Chính ủy Trung tá Bích.
Việt Nam từ lâu đã không còn chiến tranh, đã chiến thắng, thống nhất đất nước, và suốt nhiều năm nay đang xây dựng cuộc sống mới một cách thành công, đạt được nhiều thành tựu lớn và quan trọng hơn cả, đang đi đúng con đường phát triển.
Lời tiên tri của người phiên dịch ngày ấy đã trở thành hiện thực.
Nhờ sự quan tâm của chính quyền và nhân dân Việt Nam, nhiều cựu chiến binh trong chúng tôi đã có dịp quay lại Việt Nam thống nhất, tận mắt chứng kiến những thành tựu của nhân dân Việt Nam và thấy rõ rằng đất nước Việt Nam đẹp biết bao nhiêu.




