Ông Chamaléa Bình – Những lần đối mặt với bom đạn và ranh giới sinh tử
Trong ký ức của ông Chamaléa Bình, những năm tháng kháng chiến được ghi dấu bởi những cuộc hành quân giữa bom đạn, những lần báo động trong đêm và khoảnh khắc đối mặt với hiểm nguy. Hai kỷ niệm vào năm 1971 và 1973 đã trở thành những dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời người cựu chiến binh.

Ông Chamaléa Bình – Những lần đối mặt với bom đạn và ranh giới sinh tử

Trong ký ức của ông Chamaléa Bình, những năm tháng kháng chiến được ghi dấu bởi những cuộc hành quân giữa bom đạn, những lần báo động trong đêm và khoảnh khắc đối mặt với hiểm nguy. Hai kỷ niệm vào năm 1971 và 1973 đã trở thành những dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời người cựu chiến binh.
Trong những năm tham gia kháng chiến chống Mỹ, ông Chamaléa Bình, sinh năm 1941, đã có nhiều năm trực tiếp làm nhiệm vụ tại các chiến trường. Từ Huyện đội Bác Ái Đông, ông cùng đồng đội thực hiện nhiều nhiệm vụ chiến đấu, vận chuyển súng đạn, rà phá bom mìn và mở đường cho bộ đội.
Là Trung đội trưởng Trung đội 4 gồm 32 người, ông thường xuyên phải dẫn quân đi qua những khu vực nguy hiểm. Chiến trường lúc ấy không có sự an toàn tuyệt đối. Bom đạn của địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Vì vậy, người lính phải luôn trong trạng thái cảnh giác, nhất là khi di chuyển hoặc đóng quân.
Một trong những ký ức ông không thể quên xảy ra vào năm 1971, khi ông được cấp trên giao nhiệm vụ đi trải đạn phục vụ chiến đấu tại chiến trường Phan Thiết, Bình Thuận.
Đêm hôm ấy, giữa lúc đơn vị đang chuẩn bị công việc, giặc Mỹ tiến hành thả bom B52 xuống khu vực sông La Bá ở Phan Thiết. Thời điểm ấy khoảng 1 giờ sáng, bữa cơm của đơn vị còn chưa kịp nấu chín.
Nhận thấy tình hình nguy hiểm, ông Bình lập tức đánh kẻng báo động để bộ đội nhanh chóng rời khỏi khu vực. Trong khoảnh khắc khẩn cấp, mọi người phải lập tức tìm nơi tránh bom, không ai kịp nghĩ đến bữa cơm đang dang dở.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
May mắn thay, lần đó không có ai thiệt mạng. Nhưng với ông Bình, sự việc ấy là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng giữa chiến trường, sự sống và hiểm nguy luôn ở rất gần nhau. Chỉ một chút chậm trễ cũng có thể dẫn đến hậu quả khó lường.
Hai năm sau, vào năm 1973, ông tiếp tục trải qua một trận bom ác liệt khác tại Quận Du Long, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay thuộc địa bàn xã Công Hải, tỉnh Khánh Hòa.
Khi ấy, ông cùng đồng đội đang làm nhiệm vụ thì giặc Mỹ thả bom xuống doanh trại của bộ đội. Ông may mắn chạy thoát khỏi khu vực bị đánh phá, nhưng sức ép của bom quá lớn khiến cơ thể ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ông bị chảy máu ở mũi và miệng, đau tức ngực, khó thở.
Trong hoàn cảnh khẩn cấp, đồng đội đã nhanh chóng tìm cách cứu chữa cho ông. Theo lời kể của ông, ông được đồng đội cho uống ba tô nước tiểu theo cách cấp cứu mà những người lính khi ấy biết và thực hiện trong điều kiện chiến trường thiếu thốn. Sau đó, ông dần vượt qua được tình trạng nguy hiểm.
Điều khiến ông nhớ mãi không chỉ là sức tàn phá của bom đạn mà còn là sự tận tình của đồng đội. Trong hoàn cảnh không có điều kiện y tế đầy đủ, mọi người đã tìm mọi cách để cứu nhau. Đối với những người lính, đồng đội chính là người thân, là chỗ dựa trong những thời khắc khó khăn nhất.
Không chỉ hai trận bom năm 1971 và 1973, trong suốt những năm kháng chiến, ông Bình còn nhiều lần phải đi trước rà mìn, mở đường cho bộ đội. Có những chuyến hành quân, ông mang theo khoảng 50 kg súng đạn, đi trong nhiều tháng giữa những khu vực đầy nguy hiểm.
Ông kể rằng điều quan trọng nhất khi đi trước là phải thật bình tĩnh, cẩn thận và mưu trí. Người rà đường phải xác định hướng đi, phát hiện nguy hiểm và chỉ dẫn cho những người đi sau. Đằng sau ông là đồng đội; phía trước là chiến trường chưa biết điều gì đang chờ đợi.
Dù vậy, ông và đồng đội vẫn động viên nhau tiếp tục. Họ cùng chia sẻ thức ăn, quần áo, sưởi ấm bên bếp lửa và kể cho nhau nghe những câu chuyện vui. Những câu chuyện ấy giúp mọi người giữ vững tinh thần, không để nỗi sợ hãi làm lung lay ý chí.
Đến hôm nay, khi nhớ lại những năm tháng ấy, ông Bình không chỉ nhớ đến bom đạn mà còn nhớ đến những con người đã từng sát cánh bên mình. Những người đồng đội năm xưa đã cùng ông đi qua những đêm dài, những chuyến hành quân, những lần tránh bom và những thời khắc sinh tử.
Những ký ức ấy trở thành một phần không thể tách rời trong cuộc đời ông – một người lính Raglai đã đi qua chiến tranh bằng lòng dũng cảm, sự mưu trí và tình đồng đội sâu sắc.



