Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ông Huỳnh Văn Cần - Lấy nhân tâm giữa đại ngàn

Lời kể/ký ức của ông Huỳnh Văn Cần về Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Y Blôk Êban, vị tướng đầu tiên của Tây Nguyên, người đã dùng uy tín, tấm lòng vì dân và nghệ thuật dân vận để kéo đồng bào đứng về phía cách mạng trong kháng chiến và cả những năm hậu chiến chống Fulro.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 3 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của ông Huỳnh Văn Cần, Thiếu tướng Y Blôk Êban không chỉ là một sĩ quan quân đội, không chỉ là vị tướng đầu tiên của núi rừng Tây Nguyên. Trước hết, ông là người của buôn làng, người hiểu dân, nói được tiếng nói của dân, biết nỗi sợ của dân và cũng biết cách làm cho dân tin.

Những năm chiến tranh ở Tây Nguyên, bom đạn không phải hiểm nguy duy nhất. Còn có một thứ nguy hiểm âm thầm hơn: sự chia rẽ trong lòng người. Địch tuyên truyền, lôi kéo, gieo vào đồng bào nỗi sợ hãi và nghi ngờ. Chúng tìm cách làm cho người dân rời xa cách mạng, đứng giữa hai phía hoặc ngả về phía địch. Ở một vùng đất có nhiều dân tộc, nhiều buôn làng xa nhau, nhiều người dân ít được tiếp cận thông tin, lời tuyên truyền sai trái có thể làm lung lay lòng người nếu cán bộ không biết bám dân, hiểu dân và giải thích đến nơi đến chốn.

Ông Huỳnh Văn Cần nhớ rằng Y Blôk Êban nhìn rất rõ điều đó. Với ông, đánh giặc không chỉ là tiêu diệt đồn bốt hay giành mục tiêu quân sự. Muốn thắng ở Tây Nguyên thì phải có dân. Nếu dân còn đứng giữa, cách mạng chưa thật vững. Nếu dân bị địch lôi kéo, buôn làng sẽ thành nơi bị chia cắt. Vì vậy, việc lớn nhất là làm sao để đồng bào tự nguyện đứng về phía cách mạng, tin vào cách mạng, che chở cán bộ, nuôi giấu bộ đội và cùng đứng lên khi thời cơ đến.

Y Blôk Êban có lợi thế mà không phải cán bộ nào cũng có. Ông là người con của Tây Nguyên, sinh ra giữa đồng bào, hiểu phong tục, hiểu cách nghĩ của người Ê Đê, M’nông, Gia Rai, Ba Na và nhiều cộng đồng khác. Khi nói chuyện với dân, ông không nói bằng giọng xa lạ của một người chỉ đến để truyền đạt mệnh lệnh. Ông nói như người trong nhà, như người anh em của buôn làng. Ông biết khi nào cần giải thích, khi nào cần lắng nghe, khi nào cần kể chuyện cũ, khi nào cần để dân tự nói ra điều họ lo sợ.

Trong lời kể của ông Huỳnh Văn Cần, Y Blôk Êban có một cách dân vận rất đặc biệt: không đứng xa dân. Ông đến tận nơi, vào tận buôn, gặp từng người, nói chuyện với từng gia đình. Có khi đó là người già trong buôn còn phân vân. Có khi là thanh niên bị địch dụ dỗ. Có khi là gia đình có người theo phía bên kia. Ông không vội quy kết, không dùng lời nặng nề trước hết. Ông tìm cách hiểu vì sao họ sợ, vì sao họ nghe lời địch, vì sao họ chưa tin cách mạng. Từ đó, ông nói cho họ nghe về cái đúng, cái sai, về cái lợi lâu dài của buôn làng, về con đường để Tây Nguyên thoát khỏi áp bức và chia rẽ.

Chính vì vậy, trong mắt đồng bào, Y Blôk Êban không chỉ là cán bộ quân sự. Ông là người có tình. Ông từng đi qua gian khổ với dân, từng sống trong rừng với dân, từng chứng kiến buôn làng bị đốt phá, người dân bị dồn ép, trẻ nhỏ thiếu ăn, người già chạy càn. Ông hiểu rằng muốn dân tin thì cán bộ phải chịu khổ cùng dân, phải làm cho dân thấy mình không bỏ dân khi nguy hiểm. Niềm tin ấy không thể có bằng một bài nói chuyện. Nó phải được tạo nên bằng tháng năm bền bỉ.

Khi bàn về trận Buôn Ma Thuột năm 1975, ông Huỳnh Văn Cần nhớ đến một quan điểm rất quan trọng của Y Blôk Êban và ông Bùi San: muốn chiến thắng trọn vẹn thì phải đưa cả quân và dân vào cuộc. Nếu chỉ có lực lượng quân sự đánh chiếm mục tiêu mà nhân dân chưa được phát động, chưa nổi dậy, chưa phối hợp, thì thắng lợi chưa thể thật đầy đủ. Buôn Ma Thuột không chỉ là nơi có căn cứ, sở chỉ huy, tiểu khu, sân bay, kho tàng của địch. Đó còn là nơi có dân, có cơ sở cách mạng, có những gia đình âm thầm chờ thời cơ.

Vì vậy, khi chiến dịch nổ ra, sức mạnh quân sự của bộ đội chủ lực được kết hợp với sức mạnh chính trị của quần chúng. Người dân nổi dậy, cơ sở trong nội thị hoạt động, các lực lượng tại chỗ phối hợp, vận động binh lính ra trình diện, bảo vệ công sở, giữ trật tự, chỉ đường, chuyển tin. Chính sự tham gia ấy làm chiến thắng Buôn Ma Thuột không chỉ là một trận đánh quân sự, mà là sự đổi chủ thật sự của thị xã, từ trong lòng dân.

Qua lời ông Huỳnh Văn Cần, người nghe hiểu rằng Y Blôk Êban nhìn thấy sức mạnh của dân không phải bằng lý thuyết. Ông đã sống đủ lâu trong chiến tranh để biết dân quan trọng đến mức nào. Một đơn vị có thể thiếu gạo nếu dân không nuôi. Một cơ sở có thể bị lộ nếu dân không giữ bí mật. Một cán bộ có thể không vào được buôn nếu dân không dẫn đường. Một phong trào có thể không đứng vững nếu dân không tin. Bởi thế, kéo được dân về phía cách mạng là một chiến công âm thầm nhưng có ý nghĩa quyết định.

Sau ngày đất nước thống nhất, tưởng rằng công tác vận động quần chúng sẽ nhẹ hơn. Nhưng Tây Nguyên sau giải phóng vẫn còn rất nhiều phức tạp. Các lực lượng Fulro tiếp tục lẩn khuất, tuyên truyền, kích động, lôi kéo đồng bào, phá hoại an ninh ở nhiều địa bàn. Với những người làm công tác lãnh đạo ở Đắk Lắk như ông Huỳnh Văn Cần, đây là một thử thách rất lớn. Nếu xử lý chỉ bằng biện pháp cứng rắn, có thể làm dân sợ nhưng chưa chắc làm dân hiểu. Nếu để Fulro âm thầm lôi kéo, buôn làng có thể lại rơi vào chia rẽ.

Trong giai đoạn ấy, Y Blôk Êban tiếp tục xuất hiện ở những nơi khó khăn. Ông đi họp ở các địa bàn có Fulro hoạt động, gặp dân, gặp già làng, gặp những gia đình có người lầm đường. Ông đến từng nhà, thăm từng người, nói chuyện phải trái. Với người còn chần chừ, ông tìm cách vận động. Với người bỏ chạy, ông chủ trương không đánh đuổi bằng mọi giá nếu còn có thể dùng chính sách khoan hồng để kéo họ trở về. Cách làm ấy thể hiện một điều rất sâu: muốn giải quyết vấn đề ở Tây Nguyên, phải lấy nhân tâm làm gốc.

Điều làm ông Huỳnh Văn Cần và nhiều đồng chí già xúc động là Y Blôk Êban cả đời gần như không biết sống cho riêng mình. Ông đi quá nhiều, lo việc nước quá nhiều, nghĩ đến buôn làng quá nhiều. Ngay cả khi tuổi đã cao, sức khỏe yếu, chân bước khó khăn, ông vẫn trăn trở việc buôn, việc nước. Trong câu chuyện của đồng đội, hình ảnh ấy rất rõ: một vị tướng già nhưng lòng vẫn ở trong các buôn làng, vẫn lo nơi nào dân còn nghèo, nơi nào Fulro còn lôi kéo, nơi nào cán bộ làm dân vận chưa tốt.

Chính sự tận tụy ấy khiến đời riêng của ông nhiều thiệt thòi. Người vợ sau này của ông, bà Kpă HNgọt, từng nói vui mà nghẹn ngào rằng chắc kiếp trước ông mắc nợ núi rừng nên kiếp này phải trả nợ cho núi rừng, cho dân tộc. Câu nói ấy làm những người đồng chí cũ rưng rưng. Bởi ai cũng biết sau một người cán bộ hết mình vì việc chung là một gia đình chịu nhiều thiếu vắng; sau một người đi vận động dân, đi họp ở vùng có Fulro, đi làm công tác cách mạng triền miên là một người vợ sinh con, nuôi con trong cảnh chồng thường xuyên vắng nhà.

Ông Huỳnh Văn Cần kể về Y Blôk Êban không phải để dựng lên một tượng đài xa cách. Trái lại, qua lời kể ấy, người nghe thấy một con người rất đời: có uy tín, có tấm lòng, có cách nói làm dân nghe, có sự nghiêm khắc của người chỉ huy nhưng cũng có sự mềm dẻo của người hiểu dân. Ông biết khi nào phải kiên quyết, khi nào phải khoan dung, khi nào dùng sức mạnh quân sự, khi nào dùng lời nói chân thành để đưa con người lầm lạc trở về.

Câu chuyện ấy cũng cho thấy một bài học lớn của Tây Nguyên thời chiến và hậu chiến: không thể giữ được vùng đất này nếu không giữ được lòng dân. Rừng núi có thể che chở bộ đội, nhưng chính dân mới là người giữ bí mật, nuôi cán bộ, bảo vệ căn cứ, nổi dậy khi thời cơ đến và xây dựng lại buôn làng sau chiến tranh. Người cán bộ nào xa dân, không hiểu dân, không nói được với dân, rất khó đứng vững ở Tây Nguyên. Y Blôk Êban được đồng bào tin vì ông không bao giờ coi dân chỉ là đối tượng vận động; ông coi dân là gốc của cách mạng.

Nhiều năm sau, khi nhắc lại vị tướng đầu tiên của Tây Nguyên, ông Huỳnh Văn Cần nhớ nhất không phải chỉ là quân hàm hay chức vụ. Ông nhớ cách Y Blôk Êban kéo dân về phía cách mạng bằng chiến công, bằng tấm lòng và bằng sự gần dân đến tận cùng. Ông nhớ quan điểm phải đưa cả quân và dân vào chiến thắng Buôn Ma Thuột. Ông nhớ những ngày sau giải phóng, Y Blôk vẫn lặn lội đến các vùng có Fulro để vận động, thuyết phục, hóa giải chia rẽ.

Câu chuyện “Lấy nhân tâm giữa đại ngàn” vì vậy không chỉ là lời kể về một con người. Đó là câu chuyện về nghệ thuật dân vận của cách mạng ở Tây Nguyên: đánh giặc bằng súng là cần thiết, nhưng giữ dân, thu phục dân, làm cho dân tin mới là điều bền lâu. Một chiến dịch có thể mở bằng pháo, bằng xe tăng, bằng mũi tiến công táo bạo; nhưng một vùng đất chỉ thật sự đứng về cách mạng khi người dân nhận ra ai sống chết vì mình.

Trong ký ức của ông Huỳnh Văn Cần, Y Blôk Êban chính là người đã làm được điều ấy. Ông đi qua chiến tranh bằng bản lĩnh của người chỉ huy, đi qua hậu chiến bằng tấm lòng của người làm dân vận, và ở lại trong lòng đồng bào như một người con của đại ngàn đã dành cả đời để trả món nợ với núi rừng, với buôn làng, với dân tộc.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Gia Lai: ông Huỳnh Văn Cần, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nhớ lại rằng thời chiến, địch tuyên truyền và lôi kéo dân rời xa cách mạng, nên vấn đề cốt lõi là làm sao để dân đứng về phía cách mạng; ông cũng nhấn mạnh Y Blôk Êban giỏi công tác vận động quần chúng và đã “kéo được dân đứng về phía cách mạng”. Nguồn này cũng ghi Y Blôk Êban và ông Bùi San chủ trương phải đưa cả quân và dân vào thì chiến thắng Buôn Ma Thuột mới trọn vẹn; sau giải phóng, Y Blôk tiếp tục làm dân vận ở các địa bàn có Fulro, đến từng nhà, thăm từng người, dùng chính sách khoan hồng để vận động, thu phục. Thông tin thân thế ông Huỳnh Văn Cần được đối chiếu thêm từ tài liệu tiểu sử địa phương: ông sinh năm 1927, mất năm 2018, tên khai sinh Huỳnh Văn Mẫn; từng là Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn