ÔNG HUỲNH VĂN SẠCH
Trong một buổi chiều rực nắng đầu tháng Sáu, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà nhỏ nằm ven sông tại ấp Trương Thoại, xã Biển Bạch, tỉnh Cà Mau. Đó là nơi trú ngụ của ông Huỳnh Văn Sạch – một cựu du kích từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại địa phương vào những năm 70 của thế kỷ trước. Ấn tượng đầu tiên khi tôi bước qua bậu cửa là tấm bằng Tổ quốc ghi công được treo trang trọng ngay chính diện căn nhà đơn sơ. Tiếp chuyện tôi là một cụ già đã ngoài tám mươi, dáng người cao ráo nhưng tấm
Trong một buổi chiều rực nắng đầu tháng Sáu, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà nhỏ nằm ven sông tại ấp Trương Thoại, xã Biển Bạch, tỉnh Cà Mau. Đó là nơi trú ngụ của ông Huỳnh Văn Sạch – một cựu du kích từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại địa phương vào những năm 70 của thế kỷ trước. Ấn tượng đầu tiên khi tôi bước qua bậu cửa là tấm bằng Tổ quốc ghi công được treo trang trọng ngay chính diện căn nhà đơn sơ. Tiếp chuyện tôi là một cụ già đã ngoài tám mươi, dáng người cao ráo nhưng tấm lưng đã hơi còng xuống theo năm tháng. Trên gương mặt ông, những nếp nhăn xô lại như chứng tích hằn sâu của một thời hoa lửa. Đôi mắt cụ tuy đã mờ đục theo thời gian, nhưng bỗng chốc lại rực sáng lạ kỳ khi dòng ký ức chiến trường năm xưa được khơi lại.
Theo dòng hồi tưởng của người lính già, từng trang sử cuộc đời ông hiện ra sống động. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông giàu truyền thống cách mạng, có cha và anh trai đã anh dũng hy sinh trên chiến trường, tinh thần yêu nước và ý chí sục sôi đã nung nấu trong lòng cậu bé Sạch từ thuở thiếu thời. Năm 1962, vừa tròn 18 tuổi, ông chính thức gia nhập đội du kích địa phương, tiếp bước con đường cứu nước của gia đình. Với nhiệm vụ bắn tỉa và gài mìn, ông đã cùng đồng đội kiên cường ngăn chặn bước tiến của quân thù.
Dấu ấn sâu đậm nhất trong đời quân ngũ của ông là vào tháng Tư năm 1970, khi lực lượng dân quân du kích xã Biển Bạch phối hợp cùng bộ đội địa phương huyện Thới Bình tổ chức một trận tập kích táo bạo vào Đồn số 8 nằm ngay trên tuyến Sông Trẹm. Bằng lối đánh áp sát chớp nhoáng, mưu trí của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quân ta đã nhổ gọn đồn bốt này, tiêu diệt lực lượng bảo an đồn trú, phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống kìm kẹp của địch tại vùng giáp ranh. Chiến công vang dội ấy đã mở rộng vùng giải phóng, giúp bà con an tâm bám làng sản xuất. Thế nhưng, trong một trận chiến cam go sau đó, ông không may sa vào tay giặc.
Kẻ thù áp giải ông về Trại giam tù binh Trà Nóc (Cần Thơ). Tại địa ngục trần gian này, ông phải chịu muôn vàn đòn tra tấn dã man nhằm lung lạc ý chí và khai thác thông tin tổ chức. Ông bùi ngùi kể lại, bọn tay sai nhốt ông và đồng đội vào những chiếc thùng phuy sắt; ban ngày nắng cháy thịt da thì đem phơi dưới trời hầm hập, đêm xuống lại lôi ra phơi sương lạnh thấu xương. Giữa những cơn sốt rét hành hạ thể xác, người chiến sĩ du kích ấy vẫn giữ vững khí tiết, nhất quyết không nửa lời khuất phục. Bất lực trước ý chí sắt đá của các ông, bọn giặc đành chuyển họ sang lao dịch khổ sai. Phải đợi đến ngày 27/01/1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông và các đồng đội mới được trao trả tự do.
Khi tôi hỏi ngày ấy đối diện với lằn ranh sinh tử ông có sợ chết không, ông từ tốn mỉm cười: “Sống trong hoàn cảnh đó, ai cũng chỉ sợ mất nước, chứ cái chết có xá gì đâu”. Giờ đây, ở tuổi 82, sức khỏe đã suy giảm, nhiều chuyện đời thường ông đã nhớ nhớ quên quên, nhưng ký ức về thời hoa lửa thì vẫn vẹn nguyên, in hằn trong tâm trí. Câu chuyện của ông khép lại, nhưng âm vang của một giai đoạn lịch sử vừa bi thương vừa hào hùng cứ trầm hùng vọng mãi trong lòng tôi. Nhìn nụ cười phúc hậu của người cựu binh, lòng tôi trào dâng một niềm cảm phục sâu sắc: Khi Tổ quốc lâm nguy, họ là những người cầm súng đanh thép, kiên cường không một bước nhún nhường; khi hòa bình lập lại, buông vũ khí xuống, họ lại trở về với bản chất hiền lành, chất phác vốn có của người nông dân.
Rồi đây, những nhân chứng lịch sử như ông cũng sẽ bước theo quy luật của thời gian để về với tổ tiên, nhưng hồi ức về một thời gian lao và anh dũng sẽ còn rực cháy mãi trong tim các thế hệ mai sau. Ý thức được rằng lịch sử dân tộc được viết bằng máu, xương và nước mắt của bao thế hệ đi trước, thế hệ trẻ, những Đoàn viên thanh niên chúng tôi hôm nay nguyện sẽ viết tiếp những trang sử mới bằng lòng yêu nước, bằng trí tuệ và sức trẻ, quyết tâm cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các bậc tiền nhân.



