Bài viết

Ông Ích Khiêm

Đà Nẵng01/01/2026Nguyễn Đoàn Bảo Trâm (11/4 THPT Hòa Vang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

cTrong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỉ XIX, có nhiều nhân vật xuất thân bình dị nhưng bằng tài năng, ý chí và lòng trung quân ái quốc đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử. Một trong những nhân vật tiêu biểu ấy là Ông Ích Khiêm – vị tướng văn võ song toàn, nổi tiếng chính trực và quả cảm dưới triều Nguyễn. Sinh ra tại Phong Lệ Bắc, nay thuộc phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Ông Ích Khiêm không chỉ là niềm tự hào của quê hương Cẩm Lệ mà còn là một nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc bảo vệ đất nước trước các cuộc nổi dậy và ngoại xâm. Cuộc đời và sự nghiệp của ông phản ánh rõ nét khí phách của người trí thức – võ tướng Việt Nam thời phong kiến.

Ông Ích Khiêm sinh tức 25 tháng 1 năm 182 tại Phong Lệ Bắc, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ (nay là phường Cẩm Lệ), thành phố Đà Nẵng.

Tổ tiên Ông Ích Khiêm vốn là người dân tộc miền núi xuống định cư làm ruộng ở miền xuôi. Cha ông là Ông Văn Điều và mẹ là Võ Thị Cốt. Sinh ra trong một gia đình nông dân đông coni, ông Khiêm là người con thứ tư sau ba chị gái. Thuở nhỏ, ông vừa làm vừa họhọc. Ông thông minh, chăm học nhưng cũng rất nghịch ngợm. Khi lớn lên, ngoài tài gồm văn võ, ông còn nổi tiếng là người chính trực, là một vị tướng khẳng khái, mưu lược và biêt đánh giặc.

Năm 1847, ông đỗ cử nhân tại trường Hương Bình Định. Bài làm của ông được vua ban khen. Đỗ cử nhân, ông được bổ làm Tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), vì can việc thu chi tiền tu tạo huyện lỵ nên bị cách chức. Gặp lúc quân Tạ Văn Phụng ở Hải An kéo đi đánh phá, ông xin mộ binh đi theo quân thứ lập công chuộc tội, được khởi phục lại hàm Tri huyện, sung Vệ hiệp quản Chiến sĩ. Có công, ông được thăng làm Tri phủ sung Đốc binh.

Tháng 5 (âm lịch) năm 1865, quân Tạ Văn Phụng kéo đến đánh phá các đồn ở Quỳnh Lâu, An Trì thuộc tỉnh Quảng Yên; Ông Ích Khiêm mang quân phá được, lại cùng với Phó Vệ úy Phan Đình Thỏa mang quân thu phục được thành phủ Hải Ninh, nên được thăng Thị độc sung Tán tương. Đến khi quan quân khải hoàn, ông được cất lên chức Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Lễ.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1867, xét công, vua Tự Đức thăng ông làm Thị lang bộ Binh. Sang tháng sau, gặp lúc tên phạm trốn bên đất nhà Thanh (Trung Quốc) là Vi Tái Thọ tụ đảng ở Bắc Ninh, nhà vua bèn sung ông làm Bắc Ninh Tiễu phủ sứ để đi đánh dẹp (nên ông còn được gọi là Tiễu Phong Lệ hay quan Tiễu).

Việc xong, nhưng ít lâu sau (1868), Ngô Côn (là dư đảng của Hồng Tú Toàn) kéo quân đến đánh chiếm thành tỉnh Cao Bằng. Triều đình sai Tổng đốc Ninh Thái là Phạm Chi Hương viết thư cầu cứu nhà Thanh. Vua nhà Thanh bèn sai Phó tướng Tạ Kế Quý, đem quân sang giúp. Nhân đó Ông Ích Khiêm được đổi sang làm Tán lý quân thứ Lạng Bình, để cùng với Đề đốc Nguyễn Viết Thành và Phó tướng Tạ Kế Quý mang lực lượng đi đánh phá quân của Ngô Côn ở Thất Khê (Lạng Sơn). Lập công, ông được thưởng. Sau vì để quân đi đốt nhà cướp của, bị khép vào tội đồ, nhưng cho lấy công chuộc tội.

Năm 1869, Ngô Côn xua quân đi vây đánh thành tỉnh Bắc Ninh. Hay tin, từ huyện Kim Anh (nay là một phần huyện Sóc Sơn, Hà Nội), Ông Ích Khiêm đem binh voi đến chống trả. Ngô Côn bị trúng đạn lạc, tử trận, thành được giải vây, ông được khởi phục hàm Bố chính sung Tán lý. Sau đó, ông mang quân đi truy đuổi tàn quân của Ngô Côn, thắng thêm mấy trận nữa.

Năm 1870, Ông Ích Khiêm cùng Lê Bá Thận đánh bại quân Hoàng Vân ở Lục Ngạn, được thăng Tham tri bộ Binh, rồi làm Tán lý Lạng Bình, sau thăng Tham tán. Khi quân Tô Tứ chiếm thành Lạng Sơn, ông đem quân phản công nhưng bị thương, phải rút về Hải Dương nên bị giáng chức, song vẫn sung Tán lý.

Năm 1871, ông tiếp tục đánh thắng quân Tô Tứ ở Đông Triều, rồi được cử làm Tham tán quân thứ Sơn Tây. Tháng 2 năm 1872, ông cùng Nguyễn Di phá sào huyệt phỉ ở Quán Tư, thu hồi Trấn Yên, nhưng sau thua trận ở Đại Đồng nên bị cách chức lưu dụng. Năm 1873, do bất hòa với Hoàng Tá Viêm và không tham gia chiến dịch Phong Đăng, ông bị quy là không tuân lệnh, điều sang quân thứ Tuyên Quang, rồi xin về quê vì bệnh. Tính cách Quảng-Nam-quá-mức-cương-trực của Ông Ích Khiêm là điều khó phủ nhận nhưng có vẻ như đã được thổi phồng qua các giai thoại không rõ bao nhiêu phần trăm sự thật - như giai thoại về bữa tiệc toàn thịt chó - khiến một số quan chức đương thời vốn không thích càng thêm ghét ông. Có điều không hiểu sao ông lại được vua Tự Đức dành cho nhiều thiện cảm. Chính vua Tự Đức đã cho đổi họ Ông/ 螉 (có chữ Trùng) của Ông Ích Khiêm thành họ Ông/ 翁 (không có chữ Trùng) và nhiều lần cho Ông Ích Khiêm cơ hội được đoái công chuộc tội sau những trắc trở trục trặc trên quan lộ do tính cách Quảng-Nam-quá-mức-cương-trực ấy. Có lẽ tài năng quân sự vượt trội của Ông Ích Khiêm đã vào mắt xanh người đứng đầu vương triều, giống như lần đầu tiên trong đời đi thi, tài năng văn chương hơn người của Ông Ích Khiêm đã vào mắt xanh quan chánh chủ khảo…

Vua Tự Đức từng có lời dụ rằng: “Ngươi (Ông Ích Khiêm) vốn là người học thức mà ra, phải cái tính khí cương cường nóng nảy, phàm việc không chịu ở sau người… Việc ngươi đánh dẹp bọn phỉ ở tỉnh Bắc, khí tiết, công lao, trẫm đều rõ hết… Thế mà gần đây được tin là ngươi đến đâu phần nhiều dung túng cho quân sĩ làm càn. Nếu quả thực như vậy thời dân còn trông mong gì nữa! Nếu ngươi còn hối cải để khỏi phụ cái ơn tri ngộ, thì là điều mà trẫm rất mong mỏi. Bằng cứ võ biền, quên lời ân cần dạy bảo, thời trẫm phó mặc ngươi cho công luận triều đình, dù ngươi có tài cũng không tha luôn mãi được...”. Ngay như một người vốn không thiện cảm với Ông Ích Khiêm là Nguyễn Văn Tường cũng đánh giá ông rất công bằng: “Ông Ích Khiêm, khí chất hung hãn, hơn mười năm nay từng trải trăm trận, tuy trong khoảng đó có lúc cậy công nhưng gặp lúc hiểm nghèo đã vâng mệnh, lâm cơ ứng biến, binh lính đều chịu sai phái, kẻ địch cũng sợ hãi cho nên các bầy tôi ở quân thứ hiện nay không ai vượt qua. Nếu gặp được vị thống soái tài hiểu biết, có uy vọng hơn hẳn thì có thể làm cho ông ta kính sợ, mới có thể từ bỏ hết lỗi lầm mà tỏ rõ công lao, đó cũng là vị lương tướng ngày nay vậy. Duy tài lộ ra ở khí, hàm dưỡng chưa sâu, mà kẻ đồng sự lại chưa có ai hơn mình, cho nên vì khinh nhờn mà sinh kiêu căng, vì cưỡng cường mà sinh ngỗ ngược, đến nỗi tự mắc vào lỗi lầm đáng tiếc...”

Đáng nhớ nhất là ngày 13 tháng 11 Giáp Tuất 1874 niên hiệu Tự Đức thứ 27, Phạm Phú Thứ lúc bấy giờ đang giữ chức Tổng đốc Hải An, sau khi về Quảng Nam và ghé thăm Ông Ích Khiêm đang chữa bệnh ở quê nhà, đã dâng sớ lên vua Tự Đức nhằm giúp Ông Ích Khiêm sớm được trở lại chính trường, với lý do rất thuyết phục:

“Phải có người để giữ vững bờ cõi ta, khiến cho thế của phỉ ngày càng cô lập, người Tây không thể xem thường (…) Gần đây tướng tài ở đất Bắc chỉ có bề tôi là Tôn Thất Thuyết và viên bị cách là Ông Ích Khiêm khá hơn cả (…) Xét lời ông ta (tức Ông Ích Khiêm - BVT) cùng với người thường dân ngồi trao đổi lâu thì hỏa tính giảm hẳn. Thần nhân hỏi về sự trạng gần đây, cứ lời ông ta nói là từ ngày đội ơn được về quê điều trị, ngày ngày nhắc nhớ ơn vua và duy trì phương thuốc, từ đó bệnh ngày một giảm... Khi trước tỉnh quan đến hỏi, ông ta đã nguyện tăng gấp điều trị để sớm công hiệu mà báo đáp. Và như năm qua, khi Hà Nội xảy ra sự biến, ông đã từng đem việc nhà phó cho con cháu để ngày tiếp ra kinh xin đi, nhưng chứng bệnh chợt phát, cho nên nửa chừng lại thôi. Điều đó làng xóm đều biết. Lòng ông ta chưa quên báo đáp vậy. Nay thì bệnh ngày đã bớt, mà răng khuyển mã cũng ngày một dài, không ra mà báo đáp thì phụ ơn, phụ tấm lòng dâng lên vua”. Kết quả là Ông Ích Khiêm được vua Tự Đức bổ làm Tán tương quân thứ Bắc Ninh vào đầu năm Ất Hợi 1875 niên hiệu Tự Đức thứ 28.

Tháng 3 (âm lịch) năm 1882, vua Tự Đức thấy Ông Ích Khiêm giỏi giang, bấy lâu vất vả, tuy rằng có "dõng mà không có lễ", cho ông làm Hồng lô tự khanh làm Biện lý bộ Hộ, rồi cất làm Thị lang sung Tham lược kinh kỳ, coi đắp đồn Thái Dương và Lộ Châu. Ý muốn làm mau xong, ông có hành động quá nghiêm khắc với dân binh, bị vua khiển trách, giáng làm Chủ sự, cho dời đi phòng thủ ở đồn Hòa Quân, nhưng chưa bao lâu được phục hàm Thị giảng tham biện phòng vụ.

Tháng 6 (âm lịch) vua Tự Đức mất. Sau đó, Ông Ích Khiêm được giao trấn giữ cửa biển Thuận An để bảo vệ kinh thành Huế. Trước thế lực mạnh của quân Pháp, ông không thể làm tròn trách nhiệm, bị đổi sang làm Biện lý bộ Lễ. Cuối tháng 10 (âm lịch) năm ấy, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại mưu việc phế lập, mới mật bảo Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Thê mời vua Hiệp Hòa đến nha Hộ Thành, ép uống thuốc độc giết chết.

Đầu niên hiệu Kiến Phúc (1884), thăng ông làm Thị lang, tước Kiên Trung nam. Sau đó, ông dẫn quân đi tiễu trừ cuộc nổi dậy của dân thiểu số ở Trà My (Quảng Nam).

Dẹp yên xong, tháng 5 (âm lịch) năm 1884, Ông Ích Khiêm đem 50 lính đi thẳng về quê nhà (Quảng Nam). Bị Ngự sử Đào Hữu Ích đàn hặc là "tự tiện bắt binh mã đi, giao thông với phủ đệ" nên ông bị cách chức đày đi an trí ở Bình Thuận.

Tháng 6 (âm lịch) năm Giáp Thân (1884), vua Kiến Phúc mất đột ngột. Theo Nguyễn Văn Xuân thì cái chết này khiến trong và ngoài triều hết sức xôn xao. Ở trong quân lao Bình Thuận, Ông Ích Khiêm hay tin liền nhịn đói luôn bốn ngày, viết di chúc rồi uống thuốc độc chết. Trong di chúc có câu: "Vua (bị) nhục, thì thần phải chết... (Nay) ta lấy tháng 7 (âm lịch), ngày 19 làm ngày bài tử (ngày chết) vậy" (nhằm ngày 8 tháng 9 năm 1884). Năm ấy ông 55 tuổi.

Trong Di chúc viết tại nhà ngục Bình Thuận, Ông Ích Khiêm khẳng định: “Ta tham gia phụng sự tiên đế đã hơn ba mươi năm, thân làm chiến tướng, tuy nghĩa vua tôi song ơn tình giống như cha mẹ, nhưng mà sự giúp ích đền đáp của ta không từng có hiệu quả”. Rõ ràng Ông Ích Khiêm là người sống có nghĩa có tình, rất biết đối nhân xử thế.

Ông Ích Khiêm cũng tự ý thức được nhược điểm của bản thân là tính khí nóng nảy, ăn nói bộc trực dễ làm tổn thương người khác và nhiều khi phải chịu vạ miệng. Cho nên trong Di chúc, Ông Ích Khiêm không quên căn dặn con cháu: “Hàng em, hàng con, mỗi người nên ngậm miệng, trói lưỡi, chớ có khinh dễ lạm dụng lời nói; hãy lấy ở ta mà làm gương soi sáng thì tránh xa tai vạ đấy”. Ở đây Ông Ích Khiêm không hề khuyên con cháu im lặng thờ ơ với những điều trông thấy/ những chuyện bất bình - bởi nếu thế thì năm 1908 sẽ không có Ông Ích Đường tràn đầy khí phách trước cường quyền: “Bao giờ hết mía mới hết Đường!”. Ông Ích Khiêm chỉ muốn khuyên con cháu hãy cẩn trọng với lời nói và lấy bài học thất bại của chính cuộc đời mình để cảnh tỉnh hậu thế. Không né tránh và thẳng thắn bộc bạch nhược điểm của bản thân như vậy cũng là một phẩm chất rất Ông Ích Khiêm.

Năm 1885 vua Hàm Nghi truy phục cho ông hàm Thị độc.

Là một thế hệ trẻ-những hạt giống được ươm mầm cho mai sau, chúng ta mang trên mình một trách nhiệm vô cùng lớn đối với đất nước, với dân tộc Việt Nam. Ông cha ta đã có công dựng xây đất nước, thì ta phải dốc hết sức mình bảo vệ và đưa dân tộc ta vươn mình ra thế giới để sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ đã dạy. Để làm được điều đó, việc trao dồi kiến thức và kỹ năng là điều vô cùng quan trọng. Hãy noi theo tấm gương và con đường cách mạng vĩ đại của những bậc anh hùng thời xưa như Ông Ích Khiêm, Nguyễn Trãi, Quang Trung...Từ đó ta có thể góp một chút sức trẻ của mình để phụng sự cho đất nước Việt Nam- nơi chôn rau cắt rốn của ta. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói: “ NẾU GIỚI TRẺ VIỆT NAM QUÊN ĐI LỊCH SỬ, THÌ CHÚNG PHẢI DÙNG CHÍNH MÁU CỦA MÌNH ĐỂ VIẾT LẠI LỊCH SỬ DÂN TỘC.” hay lời căn dặn của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “ ĐỜI NGƯỜI CHỈ SỐNG CÓ MỘT LẦN, PHẢI SỐNG SAO CHO Ý NGHĨA, ĐỂ KHÔNG PHẢI XÓT XA, ÂN HẬN VÌ NHỮNG VIỆC LÀM TÌ TIỆN, ĐÓN HÈN, VÔ LIÊM SỈ.”Chính vì vậy, để bảo vệ lịch sự, bảo vệ đất nước như lời Đại Tướng đã nói và sống một cuộc đời ý nghĩa như Cố Tổng bí thư dặn dò, chúng ta trước hết phải tự hào về một lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam từ đó thật sự quyết tâm, rèn luyện bản thân, học tập và thực hành vào cuộc sống. Học không chỉ để hoàn thiện bản thân mà còn để đóng góp cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với bạn bè quốc tế. Mỗi việc làm dù nhỏ nhưng nếu xuất phát từ trái tim yêu quê hương, đều góp phần làm nên một xã hội tốt đẹp và văn minh hơn. Một thế hệ năng động, sáng tạo sẽ là động lực quan trọng để đất nước không ngừng tiến về phía trước.

Cuộc đời của Ông Ích Khiêm là một hành trình nhiều thăng trầm, gắn liền với những biến động dữ dội của lịch sử cuối triều Nguyễn. Dù từng bị giáng chức, đày ải hay chịu nhiều oan khuất, ông vẫn một lòng trung thành với triều đình, tận tụy vì vận mệnh quốc gia. Cái chết bi tráng của ông thể hiện rõ tinh thần trung quân và khí tiết của một bậc trung thần. Với những đóng góp về quân sự, chính trị và tấm gương nhân cách cương trực, Ông Ích Khiêm xứng đáng là nhân vật lịch sử tiêu biểu của phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, để các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, tự hào và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn