Ống nấm trong hành trang của người bác sĩ trở về Tổ quốc
Rời Nhật Bản về tham gia kháng chiến với hai bộ quần áo và một ống giống nấm penicillin, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã biến những phòng thí nghiệm tre nứa thành nơi cứu sống nhiều thương binh.
Cuối năm 1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ rời Nhật Bản trở về Việt Nam.
Sau nhiều năm học tập và nghiên cứu ở nước ngoài, hành trang của ông không có tài sản quý giá. Theo bản tự thuật được ông viết năm 1952, ông trở về tham gia kháng chiến với hai bộ quần áo và một ống giống nấm penicillin.
Chiếc ống nhỏ bé ấy chứa đựng hy vọng cứu sống những thương binh đang từng ngày đối mặt với nhiễm trùng trên chiến trường.
Đặng Văn Ngữ sinh ngày 4 tháng 4 năm 1910 tại An Cựu, thành phố Huế. Năm 1930, ông đỗ cả tú tài bản xứ và tú tài Pháp rồi nhận học bổng vào học tại Trường Y – Dược thuộc Đại học Đông Dương.
Sau khi tốt nghiệp bác sĩ năm 1937, nhờ thành tích xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại làm phụ giảng tại Bộ môn Ký sinh trùng. Đến năm 1942, ông đã là Trưởng phòng thí nghiệm ký sinh trùng và giảng viên Sinh học của Ban Dược.
Năm 1943, Đặng Văn Ngữ được cử sang Nhật Bản tu nghiệp. Tại Tokyo, ông nghiên cứu về nấm, vi khuẩn, bệnh lao và bệnh phong. Trong những năm 1947–1948, ông tìm được một giống nấm có khả năng sản xuất penicillin và cẩn thận lưu giữ giống nấm ấy với mong muốn một ngày có thể đem về phục vụ đồng bào.
Tài năng của ông được giới khoa học nước ngoài đánh giá cao. Ông có thể ở lại Nhật Bản, tiếp tục nghiên cứu trong những phòng thí nghiệm đầy đủ trang thiết bị và hưởng một cuộc sống thuận lợi.
Nhưng khi cuộc kháng chiến của dân tộc đang bước vào thời kỳ gian khó, ông chọn trở về.
Từ Thái Lan, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đi xuyên qua Lào, vượt Trường Sơn và đến Liên khu IV vào cuối tháng 12 năm 1949. Ngay trong dịp Tết năm 1950, một ngôi chùa nhỏ tại Yên Thành được sửa lại để làm phòng thí nghiệm cho ông.
Gọi là phòng thí nghiệm, nhưng nơi ấy gần như không có những dụng cụ tối thiểu. Không có cân chính xác, người làm nghiên cứu phải tìm cách so sánh thể tích. Ống tre, thân sậy và những vật liệu có sẵn được dùng thay cho dụng cụ thủy tinh. Trong điều kiện ấy, Đặng Văn Ngữ vẫn kiên trì nuôi cấy giống nấm đã mang về từ Nhật Bản.
Tháng 5 năm 1950, phòng thí nghiệm đơn sơ đã sản xuất được những lọ penicillin bột đầu tiên.
Sau đó, ông được mời lên chiến khu Việt Bắc phụ trách phòng thí nghiệm của Trường Đại học Y khoa. Tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, giữa những căn nhà bằng tre, nứa và lá, ông tiếp tục tìm phương pháp tạo ra thuốc kháng sinh phù hợp với điều kiện kháng chiến.
Việc sản xuất penicillin kết tinh cần nhiều thời gian và phương tiện, trong khi chiến trường đang cần thuốc từng ngày. Đặng Văn Ngữ chuyển hướng nghiên cứu nước lọc penicillin dùng tại chỗ cho các vết thương nhiễm trùng.
Ông cùng đồng nghiệp tận dụng nước từ thân cây ngô già, một nguyên liệu chứa đường và dễ tìm trong nhân dân, để nuôi cấy nấm. Các lớp hướng dẫn sản xuất nước lọc penicillin được tổ chức cho bác sĩ, dược sĩ, sinh viên và dược tá. Sau thời gian huấn luyện, học viên có thể đem phương pháp này về áp dụng tại những cơ sở quân y khác.
Từ một ống giống nấm được gìn giữ qua hành trình dài, những mẻ nước lọc penicillin đã được tạo ra giữa núi rừng. Thuốc giúp điều trị các vết thương nhiễm trùng, cứu sống nhiều thương binh và góp phần hạn chế những trường hợp phải cắt bỏ tay chân. Đặc biệt, thành quả ấy đã phục vụ công tác cứu chữa thương binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đặng Văn Ngữ lại dồn tâm sức cho một kẻ thù khác: bệnh sốt rét.
Ông và các cộng sự đi tới nhiều vùng rừng núi, khám bệnh, lấy mẫu máu, điều tra muỗi và tìm hiểu môi trường phát sinh dịch. Có những đêm, các nhà khoa học phải để muỗi đốt trực tiếp trên tay chân rồi bắt từng con, đưa về soi dưới kính hiển vi nhằm xác định loài muỗi truyền bệnh.
Năm 1957, ông tham gia sáng lập Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng và phụ trách chương trình phòng chống sốt rét ở miền Bắc. Những cuộc điều tra quy mô lớn cùng các biện pháp phòng bệnh đã góp phần làm giảm mạnh số người mắc sốt rét.
Nhưng tại chiến trường miền Nam, căn bệnh này vẫn đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của bộ đội và thanh niên xung phong. Dù đã lớn tuổi và là chuyên gia đầu ngành, Đặng Văn Ngữ vẫn nhiều lần xin được trực tiếp vào chiến trường nghiên cứu.
Để chứng minh mình đủ sức vượt Trường Sơn, ông hằng ngày đeo ba lô chứa gạch để luyện tập. Đầu năm 1967, nguyện vọng của ông được chấp thuận. Ông dẫn đầu một đoàn gồm 13 cán bộ khoa học rời Hà Nội vào khu vực Trị Thiên – Huế, mang theo kế hoạch nghiên cứu biện pháp phòng chống sốt rét ngay tại chiến trường.
Ngày 1 tháng 4 năm 1967, khi công việc còn dang dở, Giáo sư Đặng Văn Ngữ cùng hai đồng nghiệp hy sinh trong một trận bom tại chiến trường.
Ông đã ngã xuống trên chính quê hương mình, không phải trong căn phòng nghiên cứu yên tĩnh mà giữa nơi người lính và nhân dân đang cần sự có mặt của người thầy thuốc nhất.
Năm 1996, Giáo sư Đặng Văn Ngữ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Tên ông ngày nay được đặt cho bệnh viện, trường học và nhiều con đường.
Tuy nhiên, di sản sâu sắc nhất ông để lại có lẽ vẫn là câu chuyện về một người trí thức trở về Tổ quốc với hành trang vô cùng giản dị: hai bộ quần áo, một ống giống nấm và niềm tin rằng khoa học phải có mặt ở nơi nhân dân cần đến.


