ÔNG NGOẠI EM – NGƯỜI CHIẾN SĨ GIẢI PHÓNG QUÂN NĂM ẤY

Mỗi khi nghe kể về những năm tháng chiến tranh, em thường hình dung đến những người chiến sĩ dũng cảm, không ngại gian khổ, hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Nhưng điều khiến em tự hào hơn cả là ngay trong gia đình mình cũng có một người chiến sĩ như thế. Đó chính là ông ngoại em, ông Nguyễn Quang Chiến, một chiến sĩ Giải phóng quân từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ông ngoại em sinh năm 1955 tại Hưng Yên. Khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, gia đình ông đã có bốn người anh lên đường chiến đấu, trong đó một người đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiếp nối truyền thống yêu nước của gia đình, năm 1972, khi mới khoảng mười bảy tuổi, ông đã tình nguyện lên đường cứu nước. Điều khiến em vô cùng xúc động là ông đã viết lá đơn tình nguyện bằng chính máu của mình. Em nghĩ rằng, phải có lòng yêu nước và quyết tâm lớn lao biết bao, chàng trai trẻ năm ấy mới có thể làm được điều như vậy!
Tháng 10 năm 1972, ông nhận lệnh vào chiến trường B2 ở miền Đông Nam Bộ. Tại đây, ông là một chiến sĩ Giải phóng quân, hoạt động trong lực lượng đặc công, thực hiện những nhiệm vụ bí mật và nguy hiểm ngay trong vùng địch kiểm soát, đặc biệt tại khu vực Vũng Tàu. Ông kể rằng, những trận đánh thường diễn ra vào ban đêm. Các chiến sĩ phải ngụy trang thật khéo léo, âm thầm tiếp cận mục tiêu, có khi đến một giờ sáng mới bắt đầu hành động. Chỉ một chút sơ suất cũng có thể khiến bản thân và đồng đội gặp nguy hiểm.
Cuộc sống nơi chiến trường cũng vô cùng thiếu thốn. Có thời gian, đơn vị ông suốt ba tháng không có gạo ăn. Các chiến sĩ phải vào rừng đào củ mài, củ từ để chống đói. Đến muối cũng không có, mọi người phải đốt cỏ lấy tro dùng thay muối, nấu cùng rau dại để ăn qua ngày. Vì thiếu ăn, thiếu chất, có người còn bị phù cả cơ thể. Nghe ông kể, em thấy thương ông và những người đồng đội biết bao! Em chợt nhận ra rằng, những bữa cơm đầy đủ và cuộc sống bình yên hôm nay thật đáng quý.
Trong những câu chuyện ông kể, em nhớ nhất trận đánh tại Trường Sĩ quan Vạn Kiếp ở Vũng Tàu. Khi ấy, ông bị sốt rét rất nặng, thân nhiệt lên tới 40 độ. Dù vậy, ông vẫn tham gia trinh sát địa hình để chuẩn bị cho trận đánh. Biết ông đang ốm, đơn vị đã cho ông ở lại nghỉ ngơi. Thế nhưng, vì nắm rõ địa hình và có trách nhiệm với tiểu đội gồm mười hai chiến sĩ, ông vẫn quyết tâm cùng đồng đội lên đường.
Nhiệm vụ của tiểu đội là đánh vào vị trí của địch để thu vũ khí, đạn dược mang về vùng giải phóng. Cuối cùng, trận đánh đã giành thắng lợi, các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng sau đó, cơn sốt rét khiến ông phải nằm viện suốt nửa tháng. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ông đã được tuyên dương và gia đình nhận được giấy báo công cùng tám chữ vàng: “Dũng cảm – Kiên cường – Mưu trí – Sáng tạo”. Mỗi lần nghĩ đến câu chuyện ấy, em lại càng khâm phục ý chí và lòng dũng cảm của ông.
Trong những năm chiến đấu, ông còn tham gia nhiều trận đánh khác, từng bị thương ở đầu nhưng vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Tháng 4 năm 1973, ông lập chiến công trong một trận phục kích lực lượng tình báo, thám báo của địch và được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Năm 1975, ông tiếp tục tham gia chiến đấu tại Long Khánh và Biên Hòa, góp sức vào công cuộc giải phóng miền Nam. Với những đóng góp của mình, ông được trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công và được ghi nhận là người có công với cách mạng.
Khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục học tập và cống hiến cho đất nước. Năm 1976, ông được cử sang Liên Xô học ngành cơ khí. Sau khi trở về nước, ông làm việc tại Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, không ngừng nâng cao tay nghề và đạt nhiều thành tích trong lao động. Sau này, ông còn được cử sang Tiệp Khắc học ngành luyện kim. Em nhận thấy rằng, dù là người chiến sĩ trong thời chiến hay người công nhân trong thời bình, ông vẫn luôn cố gắng hết mình để hoàn thành nhiệm vụ.
Ngày hôm nay, khi được sống trong hòa bình, được đến trường, vui chơi bên gia đình và bạn bè, em càng thấm thía rằng cuộc sống hạnh phúc ấy không tự nhiên mà có. Đó là thành quả của biết bao thế hệ đã không tiếc tuổi trẻ, mồ hôi và cả máu xương để bảo vệ Tổ quốc.
Em vô cùng tự hào khi được làm cháu của ông Nguyễn Quang Chiến. Em mong ông luôn mạnh khỏe để tiếp tục kể cho con cháu nghe những câu chuyện lịch sử đáng nhớ. Em tự nhủ sẽ chăm chỉ học tập, sống tốt và biết yêu thương mọi người để xứng đáng với những hy sinh của thế hệ cha ông.
Với em, ông ngoại không chỉ là người thân yêu trong gia đình mà còn là một nhân chứng sống của lịch sử, một chiến sĩ Giải phóng quân dũng cảm mà em sẽ mãi kính yêu và tự hào.



