Ông ngoại tôi
Người chiến sĩ năm ấy là ông Cung Văn Để. Ông ngoại tôi sinh năm 1948, đến nay, ông tôi đã bước sang tuổi 78 và đang sinh sống tại phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian trôi đã để lại trên thân thể ông những dấu vết không thể xóa mờ: mái tóc bạc phơ như mây trắng, những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán rộng và đôi mắt có phần mờ đi theo năm tháng. Thế nhưng, mỗi khi ông ngồi thẳng lưng, ánh mắt ánh lên vẻ tinh anh và tôi vẫn thường nhìn thấy rõ tác phong nhanh nhẹn, dũng cảm của người chiến sĩ tinh nhuệ ngày nào.

Được sống trong hòa bình ngày nay, được cắp sách tới trường, được học hỏi những điều mới lạ, được quây quần, vui chơi bên gia đình và bạn bè, tôi mới hiểu rằng, giá trị của sự yên bình chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có. Đất nước Việt Nam ta đã phải trải qua biết bao thăng trầm với những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Dù phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc, cùng những năm tháng chịu sự đô hộ từ các thế lực phong kiến phương Bắc và thực dân, đế quốc phương Tây, dân tộc ta vẫn giữ vững tinh thần bất khuất và chiến đấu quyết liệt. Nhờ những năm tháng gian khổ ấy, chúng ta không chỉ nhận về nhiều bài học lịch sử vô giá, mà quan trọng hơn là nền độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, đủ đầy - điều luôn được thắp sáng bởi sự cống hiến và hy sinh của cha ông ta. Và ông ngoại tôi - một người chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ đã đi qua năm tháng bom rơi đạn nổ, là một nhân chứng sống cho thế hệ anh hùng ngày ấy, nay đã trở về cuộc sống đời thường.
Người chiến sĩ năm ấy là ông Cung Văn Để. Ông ngoại tôi sinh năm 1948, đến nay, ông tôi đã bước sang tuổi 78 và đang sinh sống tại phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian trôi đã để lại trên thân thể ông những dấu vết không thể xóa mờ: mái tóc bạc phơ như mây trắng, những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán rộng và đôi mắt có phần mờ đi theo năm tháng. Thế nhưng, mỗi khi ông ngồi thẳng lưng, ánh mắt ánh lên vẻ tinh anh và tôi vẫn thường nhìn thấy rõ tác phong nhanh nhẹn, dũng cảm của người chiến sĩ tinh nhuệ ngày nào.
Nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi, ở độ tuổi đẹp nhất với bao hoài bão, ông đã tạm gác lại ước mơ để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và nhập ngũ vào tháng 2 năm 1968, rồi xuất ngũ năm 1976. Mỗi lần ngồi bên góc hiên nhà, nhấp một ngụm trà ấm, ký ức về 8 năm chiến đấu nơi chiến trường miền Nam khốc liệt lại ùa về. Đó là những ngày tháng đầy gian nan, thử thách, giữa mưa bom, bão đạn và ranh giới mong manh của sự sống. Ông rủ rỉ kể cho tôi nghe về một thời hào hùng, oanh liệt trong suốt hành trình chiến đấu. Ông ngoại tôi từng là một chiến sĩ quân báo thuộc Phòng 2 (Cục Tình báo nghiên cứu), lực lượng được ví như “mắt thần” của quân đội. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, ông đã kiên cường bám trụ, vượt qua muôn vàn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Là một lực lượng đặc biệt, những người chiến sĩ quân báo luôn hoạt động âm thầm, bí mật với tinh thần “đi không dấu, nấu không khói”, trực tiếp đối mặt với những nguy hiểm nơi tuyến đầu để thu thập tin tức, nắm bắt tình hình địch, cung cấp thông tin quan trọng phục vụ công tác chỉ huy, tác chiến. Trong số những kỷ niệm máu và hoa nơi chiến trường, trận đánh quân Ngụy quyền Sài Gòn vào tháng 7 năm 1970 - 1971 tại tỉnh Bến Tre (miền Tây Nam Bộ) là một trong những ký ức khắc sâu trong tâm trí ông.
Ngày ấy, với vai trò là chiến sĩ Quân báo Phòng 2, ông cùng đồng đội nhận nhiệm vụ theo dõi từng đợt ra quân của Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 ngụy, ẩn nấp trong các hầm bí mật và luồn sâu vào vùng địch kiểm soát để nắm bắt tình hình bố phòng, quy luật hoạt động và quy mô lực lượng của đối phương trên sông Hàm Luông, Cổ Chiên. Trận chiến diễn ra vô cùng gay go và ác liệt khi kẻ địch ra sức càn quét, tung lực lượng dày đặc nhằm đè bẹp các căn cứ của ta. Đối mặt với tình thế 'ngàn cân treo sợi tóc', người chiến sĩ quân báo ấy vẫn giữ trọn sự tĩnh trí, mưu trí và can trường. Giữa muôn vàn vòng vây cùng cơn mưa bom bão đạn của địch, ông cùng các đồng đội đã thu thập và cung cấp những thông tin tình báo vô cùng giá trị, giúp đơn vị nắm chắc thế chủ động, bẻ gãy các đợt càn quét và giáng những đòn chí mạng vào lực lượng Ngụy quyền Sài Gòn. Chiến thắng tháng 7 năm 1970 không chỉ là một mốc son trong cuộc đời của ông, mà còn là bằng chứng sống động cho tinh thần anh dũng, sắt đá của người lính Cụ Hồ.
Không chỉ từng trải qua những trận chống càn khốc liệt tại miền Tây Bến Tre hay vùng ven Sài Gòn năm 1970 – 1971, ông ngoại tôi vẫn còn mang trong mình những miền ký ức sâu đậm về những năm tháng chiến đấu tại vùng “Đất thép” Củ Chi, giai đoạn 1973-1974. Tôi vẫn nhớ như in ánh mắt xa xăm của ông mỗi khi nhắc lại quãng thời gian ấy — một thời kỳ đầy cam go với những cuộc chiến đấu, ngăn chặn địch lấn chiếm, bảo vệ và giữ vững căn cứ cách mạng. Đó không chỉ là cuộc chiến đấu để bảo toàn lực lượng, mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm giữ vững địa bàn, tạo thế và lực, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, mở ra một kỷ nguyên mới độc lập, tự do và Chủ nghĩa Xã hội.
Ông xúc động nhớ lại, sau hiệp định Paris năm 1973, dù trên giấy tờ đã có hòa bình, nhưng dưới lòng địa đạo, chiến trường Củ Chi chưa một ngày nào yên tiếng súng. Địch ra sức mở các chiến dịch hành quân và những cuộc càn quét quy mô lớn nhằm đánh phá, lấn chiếm và xóa bỏ các vùng căn cứ cách mạng, trong đó có khu vực “Tam giác sắt” (Củ Chi – Bến Cát – Trảng Bàng). Trận này, ông ngoại tôi tham gia đánh chống càn quy mô cấp Trung Đoàn. Ông vẫn nhớ như in cái cảm giác ngột ngạt dưới căn hầm bí mật, nơi ông cùng đồng đội ngày đêm bám trụ, âm thầm phục vụ các đơn vị chiến đấu, kiên trì bám trụ hệ thống địa đạo, chịu đựng gian khổ dưới lòng đất tối tăm, thu thập những thông tin quân sự quan trọng về lịch trình càn quét và các hệ thống đồn bốt của địch. Những đóng góp thầm lặng ấy đã góp phần cùng quân dân Củ Chi bảo vệ căn cứ và giữ vững vùng giải phóng. Nhờ tinh thần kiên cường, bất khuất và sự phối hợp tác chiến chặt chẽ cùng đồng đội, ông đã góp phần làm nên những chiến công vẻ vang, đóng góp vào thắng lợi chung của quân và dân ta. Trận đánh giằng co ác liệt năm 1973 - 1974 tại miền Đông gian lao ấy đã tôi rèn nên bản lĩnh thép của ông, một người lính không bao giờ lùi bước, luôn vững vàng vượt qua mọi gian khổ trong cuộc sống.
Nhưng kỉ niệm khiến giọng ông run run niềm tự hào nhất chính là những ngày tháng tư lịch sử năm 1975, khi ông tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh trên mặt trận Tây Bắc Sài Gòn. Đã quá quen thuộc với từng con đường, tấc đất Củ Chi từ những trận đánh trước đó, ông tôi hào hứng kể lại những giây phút cùng lực lượng Quân Báo và đặc công đã tích cực nắm bắt tình hình phòng thủ của Sư đoàn 25 địch đóng dày đặc tại căn cứ Đồng Dù, hỗ trợ các cánh quân chủ lực của Quân đoàn 3 tiến đánh. Rạng sáng 29/4/1975, quân ta dồn dập bằng hỏa lực pháo binh, xe tăng hạng nặng kết hợp với lực lượng đặc công, luồn sâu của quân báo. Sau những giờ phút chiến đấu vô cùng ác liệt, căn cứ Đồng Dù bị đập tan, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25) bị bắt sống. Khi cánh cửa thép Tây Bắc bị bật tung, ông sát cánh cùng đồng đội thọc sâu qua Cầu Tham Lương, An Sương tiến thẳng vào nội đô. Khoảnh khắc lá cờ tung bay trên Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975 vĩnh viễn là ký ức thiêng liêng nhất trong đời ông - ngày đất nước trọn niềm vui và những người lính bộ đội Cụ Hồ như ông ngoại tôi đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh với Tổ quốc.
Lắng nghe câu chuyện xúc động của ông, tôi lại nhớ đến lời nhận định lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng về Chiến thắng mùa Xuân 1975 rằng “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tình thời đại sâu sắc ” . Và tôi tự hào biết bao khi trong dòng chảy lịch sử vĩ đại ấy, ông ngoại tôi - một chiến sĩ Quân báo Phòng 2, đã góp phần công sức thầm lặng nhưng vô cùng vẻ vang.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông ngoại tôi may mắn lành lặn trở về miền Bắc an toàn và làm thủ tục xuất ngũ, chính thức hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quân sự cùng những năm tháng chiến đấu gian khổ trên khắp chiến trường miền Nam. Không ngừng cống hiến cho quê hương sau những năm tháng chiến tranh, ông tôi tiếp tục đem tinh thần trách nhiệm và phẩm chất của một người chiến sĩ cách mạng vào công tác tại Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Nếu như thời chiến, ông là người chiến sĩ quân báo dũng cảm, mưu trí nơi tuyến đầu, thì giữa thời bình, ông lại là một cán bộ tòa án tận tụy, công tâm, giữ gìn công lý và kỷ cương pháp luật. Dù trên thân thể không mang những vết thương thịt da của bom đạn, nhưng trong tâm khảm ông, ký ức về những người đồng đội nằm lại nơi chiến trường vẫn luôn là niềm trăn trở. Dẫu cho là ở bất kì vị trí hay thời kì nào, ở ông vẫn luôn tỏa sáng những phẩm chất cao quý của người lính Bộ đội Cụ Hồ - trung thành, liêm chính và hết lòng vì dân.
Với 55 tuổi Đảng cùng nhiều bằng khen và Huân chương quý giá được Đảng và Nhà nước trao tặng, ông chính là niềm tự hào vô giá đối với gia đình tôi. Ông không chỉ là tấm gương sáng để tôi có thể học tập và noi theo, mà ông còn là một người ông hiền lành, sống giàu tình cảm và luôn trăn trở với biết bao kỉ niệm của một thời hoa lửa gian lao. Càng lớn lên tôi càng thương ông nhiều hơn, thương những gian khổ, những mất mát ông từng gồng gánh nơi chiến trường xưa, thương cả những cơn đau bệnh tật tuổi già đang âm ỉ hành hạ ông khi trời trở gió.
Nhìn lại hành trình chiến đấu kiên cường của ông ngoại tôi từ những năm 1970 cho đến ngày đất nước trọn niềm vui 30/4/1975, tôi càng thêm thấu hiểu giá trị hai chữ “độc lập” và thấm thía câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì đáng quý hơn độc lập, tự do”. Hành trình đi qua những chiến trường ác liệt từ Bến Tre, Củ Chi đến nội đô Sài Gòn của ông mãi mãi là một trang thiên sử hào hùng. Những đóng góp thầm lặng của ông cùng lực lượng Phòng Quân báo đã hòa chung vào dòng chảy lịch sử vĩ đại của dân tộc. Giờ đây khi được sống trong hòa bình, mỗi câu chuyện ông kể, mỗi vết sẹo thời gian trên người ông đều là những bài học vô giá ghi sâu vào tâm trí tôi. Những giá trị sống cao đẹp mà ông truyền lại sẽ mãi là kim chỉ nam, nâng bước tôi trên con đường trưởng thành, để tôi luôn biết sống có trách nhiệm, biết ơn những người hùng thầm lặng hy sinh bảo vệ Tổ quốc và trân trọng từng giây phút hòa bình hôm nay.



