Cựu chiến binh

Ông Nguyễn Minh Tân - Đường trinh sát vào Tân Sơn Nhất

Lời kể/ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Minh Tân, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn quân báo Quân đoàn 3, về những ngày sau Chiến dịch Tây Nguyên, khi ông cùng đội hình chủ lực thần tốc tiến về Sài Gòn, tham gia hướng đánh Đồng Dù, Tân Sơn Nhất và chứng kiến giờ phút toàn thắng ngày 30/4/1975.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 4 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Minh Tân, mùa xuân năm 1975 là một cuộc hành quân không có thời gian để ngoái lại. Sau chiến thắng Tây Nguyên, người lính trinh sát trẻ tuổi ấy cùng đồng đội đi tiếp về phía Nam, mang theo bụi đỏ cao nguyên, tiếng súng còn vang sau lưng và niềm tin rằng ngày thống nhất đã ở rất gần.

Ông Tân ra đi từ quê hương Vĩnh Phú cũ, vùng đất Tổ, rồi có mặt trong đội ngũ bộ đội chủ lực trên Mặt trận Tây Nguyên. Là lính quân báo của Quân đoàn 3, nhiệm vụ của ông không chỉ là cầm súng tiến công. Người trinh sát phải đi trước, quan sát trước, nắm đường, nắm địch, tìm lối cho đội hình phía sau. Có khi phải luồn qua những vùng còn địch, có khi phải nhận diện mục tiêu trong điều kiện rất gấp, có khi chỉ một báo cáo chậm hoặc sai có thể khiến cả mũi tiến công gặp nguy hiểm.

Tháng 3 năm 1975, chiến trường Tây Nguyên chuyển động dồn dập. Buôn Ma Thuột thất thủ, thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên tan vỡ. Tại Gia Lai, các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng tỉnh, truy quét tàn quân, củng cố chính quyền và chuẩn bị sức người, sức của cho cuộc Tổng tiến công cuối cùng. Với Nguyễn Minh Tân và đồng đội, thắng lợi ấy chưa phải điểm dừng. Đó là điểm xuất phát cho một cuộc hành quân mới, nhanh hơn, xa hơn và quyết định hơn.

Sau thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, ông Tân cùng đội hình Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 nhận lệnh tiến về Sài Gòn. Lúc ấy, khí thế trong đơn vị rất lớn, nhưng phía trước vẫn là những mục tiêu vô cùng khó. Sài Gòn chưa phải một thành phố mở cửa sẵn. Ở cửa ngõ Tây Bắc, căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn được xem như một “cánh cửa thép”. Nếu không đập tan được căn cứ này, các mũi tiến công của ta khó thọc sâu vào nội đô đúng thời gian chiến dịch yêu cầu.

Rạng sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, trận đánh Đồng Dù nổ ra. Đúng 5 giờ 30 phút, Sư đoàn 320 nổ súng tiến công căn cứ. Địch chống trả quyết liệt. Chúng có hệ thống công sự, trận địa, hỏa lực mạnh, lại được bố trí với quân số lớn và tinh thần tử thủ. Với người lính ngoài trận địa, Đồng Dù không phải một cái tên trên bản đồ. Đó là tiếng pháo, là khói bụi, là những hỏa điểm bắn chéo, là từng bước tiến phải đổi bằng máu.

Nhưng đội hình tiến công của ta vẫn áp sát, phá từng lớp phòng thủ. Đến 10 giờ 30 phút, ta làm chủ toàn bộ căn cứ Đồng Dù, đập tan Sư đoàn 25. “Cánh cửa thép” phía Tây Bắc Sài Gòn bị phá vỡ. Từ đó, con đường tiến vào nội đô mở rộng hơn cho các cánh quân giải phóng.

Sáng 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Minh Tân cùng các trinh sát trực tiếp dẫn Sư đoàn 10 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Với lính miền Bắc và bộ đội từ chiến trường Tây Nguyên vào, đường phố Sài Gòn khi ấy như một bàn cờ lớn, nhiều ngã rẽ, nhiều tuyến đường, nhiều điểm có thể bị chặn. Muốn tiến nhanh vào mục tiêu, các mũi quân cần sự hỗ trợ của lực lượng biệt động Sài Gòn, những người thông thuộc nội đô, nắm rõ từng con đường, từng cây cầu, từng khu vực có thể còn ổ đề kháng.

Trên đường tiến vào Tân Sơn Nhất, đội hình gặp nhiều tình huống ác liệt. Đến cầu Bông, cầu bị đánh sập, nhiều chiến sĩ hy sinh. Với ông Tân, đó là một hình ảnh không thể quên. Chiến thắng đã rất gần, nhưng cái chết vẫn hiện diện ngay trước mắt. Đồng đội ngã xuống trên con đường vào mục tiêu cuối cùng, khi chỉ còn ít giờ nữa đất nước sẽ thống nhất. Người sống không có thời gian dừng lại lâu để khóc. Họ phải gạt nước mắt, tiếp tục tiến lên theo mệnh lệnh “thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa”.

Đúng 7 giờ 15 phút ngày 30 tháng 4, Sư đoàn 10 được lệnh khai hỏa. Các trận địa pháo lớn của ta trút bão lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, làm hệ thống phòng thủ của địch nhanh chóng bị tê liệt. Với người lính trinh sát như Nguyễn Minh Tân, đó là thời khắc vừa căng thẳng vừa nghẹt thở. Pháo ta bắn dồn dập, bộ binh chuẩn bị xung phong, các mũi tiến công phải nắm chắc hướng, không để chậm, không để lạc, không để địch kịp phục hồi.

Đến 10 giờ 35 phút, ta làm chủ hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay sau đó, ông Tân cùng Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 tiếp tục tiến về Bộ Tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn, phối hợp với các cánh quân khác trong giờ phút toàn thắng. Lúc ấy, ông mới 21 tuổi. Tuổi đời còn rất trẻ, nhưng đã đi qua những ngày tháng mà có người cả đời cũng không thể hình dung: Tây Nguyên, Đồng Dù, Tân Sơn Nhất, rồi Sài Gòn trong buổi trưa lịch sử.

Điều khiến ông Tân nhớ mãi là hình ảnh cờ. Khi quân giải phóng tiến vào thành phố, cờ xuất hiện khắp nơi. Ông từng ngỡ ngàng tự hỏi cờ được may lúc nào, ở đâu mà nhiều đến vậy. Quân ta tiến đến đâu, cờ tung bay đến đó. Những lá cờ ấy không chỉ là màu sắc của chiến thắng. Chúng là niềm vui bị dồn nén suốt nhiều năm, là sự chờ đợi của người dân, là dấu hiệu cho thấy thành phố đang bước sang một đời sống mới.

Nhưng trong niềm vui ấy, ký ức của người lính vẫn có những khoảng lặng. Ông Tân đã chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh trên đường tiến quân. Có người ngã xuống khi chỉ còn rất gần ngày toàn thắng. Có người không kịp nhìn thấy cờ bay trên Sài Gòn. Có người mãi mãi nằm lại ở Tây Nguyên, ở Đồng Dù, ở cầu Bông, ở những đoạn đường mà sau này người đời đi qua trong bình yên. Vì vậy, khi kể lại chiến thắng, ông không chỉ kể bằng niềm tự hào, mà còn bằng nỗi thương đồng đội.

Sau ngày 30 tháng 4, cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Minh Tân chưa dừng lại. Ông tiếp tục tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi sau đó còn có mặt ở Mặt trận Vị Xuyên trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Với ông, danh dự của người lính và danh dự của dân tộc buộc ông phải tiếp tục cầm súng khi Tổ quốc cần. Chiến tranh này nối tiếp chiến tranh khác, tuổi trẻ của ông đi qua nhiều mặt trận, nhiều mất mát, nhiều lần đứng trước ranh giới sống chết.

Nhiều năm sau, ông Nguyễn Minh Tân cùng gia đình chọn Gia Lai làm quê hương thứ hai. Ông sinh sống ở xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, nơi từng là một phần của chiến trường Tây Nguyên năm xưa. Nhìn Gia Lai đổi thay, nhà cửa khang trang, phố xá rộng mở, cuộc sống yên bình hơn, ông vui vì những hy sinh của đồng đội không vô nghĩa. Nhưng niềm vui ấy luôn đi cùng sự biết ơn nhân dân vùng căn cứ. Ông nhắc rằng nếu không có dân, bộ đội không thể sống được đến hôm nay. Dân đào hầm cho bộ đội trú ẩn, dành cơm, củ sắn nuôi bộ đội, có khi làm rẫy được mười gùi lúa thì góp cho cách mạng chín gùi, chỉ giữ lại một gùi cho con cái.

Câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Minh Tân vì vậy không chỉ là câu chuyện về một người lính trinh sát trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là câu chuyện về một thế hệ đã đi qua nhiều mặt trận, từ Tây Nguyên đến Sài Gòn, từ Đồng Dù đến Tân Sơn Nhất, rồi tiếp tục chiến đấu ở biên giới sau ngày hòa bình. Trong lời kể của ông, chiến thắng không chỉ có khí thế thần tốc, mà còn có nước mắt đồng đội, có lòng dân, có trách nhiệm của người sống sót phải kể lại cho thế hệ sau.

Ông Tân từng nói, có lẽ số phận cho ông sống để kể lại. Và đúng như vậy, ký ức của ông là một phần ký ức dân tộc: ký ức về những người lính trinh sát đi trước đội hình, về những cánh quân thần tốc tiến vào Sài Gòn, về những lá cờ bỗng rợp trời trong ngày 30 tháng 4, và về những con người đã ngã xuống để đất nước có ngày thống nhất.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Gia Lai: ông Nguyễn Minh Tân là cựu chiến binh quê Vĩnh Phú cũ, từng là trinh sát chiến đấu trên Mặt trận Tây Nguyên, lính Tiểu đoàn quân báo thuộc Quân đoàn 3 và hiện sinh sống tại xã Biển Hồ, TP. Pleiku. Nguồn này cũng ghi sau Chiến dịch Tây Nguyên, ông cùng Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 tiến về Sài Gòn; Sư đoàn 320 đánh chiếm căn cứ Đồng Dù lúc 5 giờ 30 đến 10 giờ 30 ngày 29/4/1975; sáng 30/4, ông cùng trinh sát dẫn Sư đoàn 10 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, làm chủ sân bay lúc 10 giờ 35, sau đó tiến về Bộ Tổng tham mưu.

Nguồn Báo Gia Lai cũng ghi chi tiết ông Tân lúc đó 21 tuổi, nhớ cảnh cầu Bông bị đánh sập khiến nhiều chiến sĩ hy sinh, và hình ảnh cờ hoa rợp trời khi quân ta tiến vào thành phố; sau này ông tiếp tục tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam và Mặt trận Vị Xuyên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn