Ông Nguyễn Thái Huyền - Những ngày không ngủ ở Đà Lạt mùa thu 1945
Lời kể/ký ức của ông Nguyễn Thái Huyền về những ngày tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Đà Lạt, khi người thanh niên 17 tuổi được phân công làm giao liên, đưa thư, điện thoại viên cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.
Trong ký ức của ông Nguyễn Thái Huyền, mùa thu năm 1945 ở Đà Lạt không phải là một mùa thu êm đềm của thành phố cao nguyên. Đó là những ngày không ngủ, những ngày cả ấp Nghệ Tĩnh như có lửa trong lòng, những ngày một chàng trai 17 tuổi lần đầu cảm nhận rất rõ rằng đời mình, làng mình và cả đất nước mình đang bước sang một khúc quanh lớn.
Ông Huyền sinh năm 1928 ở xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Năm 1935, theo cha mẹ vào Đà Lạt sinh sống, ông trở thành một trong những cư dân đầu tiên của ấp Nghệ Tĩnh. Nơi ấy ban đầu còn hoang sơ, lạnh lẽo, những gia đình từ miền Trung vào vừa khai hoang, dựng nhà, lập ấp, vừa mang theo truyền thống cách mạng của quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh. Trên đất mới, cái nghèo và nỗi vất vả không làm tắt đi tinh thần yêu nước. Trái lại, những người dân xa quê càng gắn bó với nhau, cùng nhắc nhau về cảnh nước mất, dân lầm than và khát vọng có ngày được làm chủ cuộc đời mình.
Đến đầu năm 1945, không khí cách mạng ở Đà Lạt dần sôi lên. Phát xít Nhật đảo chính Pháp, tình hình thay đổi từng ngày. Từ nhà lao Buôn Ma Thuột, các tù chính trị được thả ra, trong đó có những người về Đà Lạt gây dựng cơ sở, chuẩn bị khởi nghĩa. Ở các phường, ấp, trong giới công nhân, thanh niên, phụ nữ, nông dân, các tổ chức cứu quốc dần hình thành. Tin tức từ các nơi truyền về làm lòng người náo nức. Ai cũng cảm thấy thời cơ đang đến gần.
Với chàng trai Nguyễn Thái Huyền lúc ấy, cách mạng không còn là chuyện xa xôi của người lớn. Nó đến trong từng cuộc họp kín, từng lời dặn phải giữ bí mật, từng lá thư cần chuyển gấp, từng lần thanh niên trong ấp được gọi đi tập hợp. Ông được các anh, các chú dìu dắt tham gia hoạt động. Ban đầu chỉ là những việc nhỏ, nhưng trong thời khắc chuẩn bị khởi nghĩa, không có việc nào là nhỏ. Một tờ giấy đưa đúng người, một lời nhắn đến đúng lúc, một cuộc gọi được nối kịp thời đều có thể giúp phong trào vận hành thông suốt.
Đêm 21 tháng 8 năm 1945, tại Đà Lạt, hội nghị bàn kế hoạch khởi nghĩa được tổ chức. Chủ trương được thống nhất: vận động và tổ chức nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại Đà Lạt và tỉnh Lâm Viên vào ngày 23 tháng 8. Từ giây phút ấy, mọi việc diễn ra rất gấp. Người may cờ, người viết khẩu hiệu, người đi báo tin, người tập hợp các đoàn thể, người chuẩn bị đội ngũ tự vệ. Không khí trong ấp Nghệ Tĩnh nóng lên từng giờ, dù Đà Lạt đêm ấy vẫn lạnh.
Ông Huyền nhớ đó là những ngày không ai ngủ yên. Những người dân nghèo trong ấp, vốn quen cầm cuốc, cầm rựa, nay chuẩn bị xuống đường giành chính quyền. Vũ khí của họ rất thô sơ: cái nỉa, cái xẻng, con dao, cây gậy. Nhưng trong lòng họ có thứ mạnh hơn vũ khí: niềm tin rằng đã đến lúc người dân không còn phải cúi đầu trước chính quyền cũ. Những người mẹ, người chị, thanh niên, phụ lão đều góp phần vào cuộc chuẩn bị. Không ai muốn đứng ngoài thời khắc mà lịch sử gọi tên.
Sáng sớm ngày 23 tháng 8 năm 1945, từ các phường, ấp và vùng ngoại ô, nhân dân Đà Lạt kéo về khu vực chợ cũ, nay là khu Hòa Bình. Đoàn người đi trong hàng ngũ chỉnh tề, dưới cờ đỏ sao vàng và những khẩu hiệu cách mạng. Đồng bào dân tộc thiểu số ở tổng Lạch, vùng Lạc Dương, cũng kéo về tham gia khởi nghĩa. Thành phố cao nguyên hôm ấy không còn vẻ trầm lặng quen thuộc. Những con đường quanh chợ, những dốc phố, những khoảng sân bỗng đầy tiếng bước chân, tiếng hô khẩu hiệu, tiếng gọi nhau nhập đoàn.
Với Nguyễn Thái Huyền, hình ảnh ấy theo ông suốt đời. Một chàng trai 17 tuổi đứng giữa dòng người, vừa hồi hộp, vừa tự hào, vừa ý thức rằng mình đang có mặt trong một việc lớn hơn tất cả những gì từng biết. Trước mắt ông là những người dân bình thường của Đà Lạt: công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, phụ lão, đồng bào dân tộc thiểu số. Họ không mặc quân phục, không có vũ khí hiện đại, nhưng khí thế của họ khiến bộ máy chính quyền cũ phải run sợ.
Sau cuộc mít tinh, đoàn biểu tình kéo đến bao vây dinh Tỉnh trưởng Lâm Viên. Tiếng hô vang lên dồn dập: đả đảo đế quốc, đả đảo chính phủ tay sai, Mặt trận Việt Minh muôn năm. Trước sức mạnh của quần chúng, Tỉnh trưởng Ưng An phải nộp con dấu, giấy tờ, sổ sách cho Ủy ban khởi nghĩa. Đoàn người tiếp tục kéo đến chiếm đồn bảo an, làm chủ nhà thông tin, phá cửa nhà lao, giải cứu những đồng chí và đồng bào đang bị giam cầm. Từng cơ quan của chính quyền cũ lần lượt về tay nhân dân.
Những ngày tiếp theo, ông Huyền được phân công làm công việc đưa thư, giao liên, rồi phụ trách điện thoại viên và giao liên nội bộ cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên đầu tiên. Công việc ấy đòi hỏi sự nhanh nhẹn, kín đáo và chính xác. Tin tức từ nơi này phải chuyển đến nơi khác kịp thời. Điện thoại phải được nối. Thư từ, giấy tờ, mệnh lệnh phải đến đúng người. Trong bộ máy cách mạng non trẻ vừa ra đời, những người trẻ như ông là những mắt xích nhỏ nhưng rất cần thiết.
Ngày 24 tháng 8, nhân dân Đà Lạt tiếp tục biểu tình đến Dinh Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh. Trước sức mạnh quần chúng, Tổng đốc Trần Văn Lý phải nộp ấn tín. Các công sở được tiếp quản. Đến ngày 28 tháng 8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đà Lạt thành công tốt đẹp. Với ông Huyền, những ngày đó giống như một dòng thác. Tất cả diễn ra nhanh, mạnh, dồn dập; khi nhìn lại mới thấy mình đã đi qua một thời khắc không thể nào quên.
Rồi ngày 2 tháng 9 năm 1945 đến. Từ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Đà Lạt, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên ra mắt đồng bào. Niềm vui tràn ngập khắp nơi. Với người dân ấp Nghệ Tĩnh, với chàng thanh niên Nguyễn Thái Huyền và bao người đã đi trong đoàn biểu tình mùa thu ấy, độc lập không phải một khái niệm trừu tượng. Độc lập là con dấu vừa được chính quyền cũ nộp lại. Độc lập là nhà lao được mở cửa. Độc lập là lá cờ đỏ sao vàng bay trên thành phố. Độc lập là người dân lần đầu cảm thấy mình thật sự có quyền quyết định vận mệnh của mình.
Nhưng niềm vui không kéo dài trọn vẹn. Sau mùa thu ấy, người Pháp quay lại tái chiếm Đà Lạt. Những người từng tham gia cách mạng bị lùng bắt. Người rơi vào tay giặc, người vào chiến khu, người phải tản đi nơi khác để tránh tai mắt địch. Ông Nguyễn Thái Huyền trở về quê Nghệ An, rồi tiếp tục vào Huế học. Khi phong trào “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” lan rộng, ông cũng rời trường học, tham gia kháng chiến, làm công tác tuyên truyền, rồi gia nhập quân đội.
Cuộc đời ông sau đó đi qua nhiều chặng đường lớn của đất nước. Ông làm việc tại Văn phòng Liên khu 4, rồi được điều ra Tổng cục Quân khí ở ATK Thái Nguyên. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông tham gia Đội 217, làm nhiệm vụ chống bom nổ chậm trên đèo Pha Đin. Đến kháng chiến chống Mỹ, ông được Tổng cục Bưu điện điều động vào Bưu điện Quảng Bình, làm giao bưu, góp phần nối liền huyết mạch thông tin trên đường Trường Sơn. Đất nước thống nhất, ông đưa gia đình trở lại Đà Lạt và công tác trong ngành Bưu điện Lâm Đồng cho đến khi nghỉ hưu.
Dù đã đi qua nhiều chiến dịch, nhiều mặt trận, nhiều công việc khác nhau, ký ức về mùa thu năm 1945 ở Đà Lạt vẫn là một trong những ký ức sáng nhất đời ông. Sau khi nghỉ hưu, chính ký ức ấy thôi thúc ông cầm bút viết văn. Trong các trang viết của mình, ông tái hiện không khí Đà Lạt những ngày chuẩn bị khởi nghĩa, những cuộc đấu trí bí mật, những con người bình thường nhưng quả cảm, những thanh niên, phụ nữ, nông dân cứu quốc đi tìm nỉa, xẻng, dao làm vũ khí. Đó là cách ông giữ lại cho thế hệ sau một phần mùa thu mà ông đã sống.
Khi được hỏi về những ngày tháng ấy ở tuổi ngoài chín mươi, ông Nguyễn Thái Huyền không kể như một người đứng ngoài nhìn lại lịch sử. Ông kể như người vẫn còn nghe tiếng bước chân đoàn biểu tình tiến về khu Hòa Bình, vẫn còn thấy cờ đỏ sao vàng trên tay đồng bào, vẫn còn cảm được nhịp tim của tuổi mười bảy trong ngày thành phố đứng lên. Với ông, Cách mạng Tháng Tám ở Đà Lạt không chỉ là thắng lợi của một địa phương. Đó là ngày người dân từ thân phận bị trị trở thành người làm chủ.
Câu chuyện của ông Nguyễn Thái Huyền vì thế là câu chuyện của một người trong cuộc, một người đã bắt đầu đời hoạt động cách mạng bằng công việc giao liên, đưa thư, nối điện thoại cho chính quyền cách mạng non trẻ. Nó cho thấy lịch sử lớn được làm nên bởi rất nhiều việc nhỏ: một lá thư chuyển đúng lúc, một cuộc điện thoại được nối kịp, một đoàn người được tập hợp, một con dấu được tiếp nhận, một nhà lao được mở cửa. Và trong mùa thu Đà Lạt năm 1945, những việc nhỏ ấy đã hợp lại thành một bước ngoặt lớn: nhân dân đứng lên giành chính quyền, mở đầu hành trình độc lập, tự do trên thành phố cao nguyên.
Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Quân khu 7: ông Nguyễn Thái Huyền sinh năm 1928 tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An; năm 1935 theo gia đình vào Đà Lạt, là một trong những cư dân đầu tiên của ấp Nghệ Tĩnh; năm 1945 ông 17 tuổi, được phân công đưa thư, làm giao liên, điện thoại viên và giao liên nội bộ cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên. Bảo tàng Lâm Đồng xác nhận các mốc chính của cuộc khởi nghĩa ở Đà Lạt: hội nghị đêm 21/8/1945 quyết định khởi nghĩa ngày 23/8; sáng 23/8 nhân dân tập trung tại khu chợ cũ, nay là khu Hòa Bình; đoàn biểu tình bao vây dinh Tỉnh trưởng Lâm Viên, chiếm đồn bảo an, làm chủ nhà thông tin, phá cửa nhà lao; ngày 24/8 tiếp quản Dinh Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh và đến 28/8 cuộc khởi nghĩa thành công.


