Ông Nguyễn Thế Hồ thương binh
Chú Nguyễn Thế Hồ, sinh năm 1959, thương binh bị thương 3,4 tỉ lệ 51 %, Thời gian nhập ngũ: Chú tham gia quân ngũ vào năm 1977. Đơn vị huấn luyện: Tiểu đoàn 4 (D4), Trung đoàn 209 (E209), Sư đoàn 312 (F312), thuộc Quân đoàn 1. Địa điểm huấn luyện: Đóng quân tại khu vực phía Bắc, cụ thể là tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên).

Ký Ức Đỏ Nơi Mưa Bom Bão Đạn: Hành Trình 5 Năm Rực Lửa
Năm 1977, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ chưa được bao lâu, bóng đen của chiến tranh lại một lần nữa kéo đến. Đáp lời sông núi, chú – một chàng thanh niên tuổi đời còn rất trẻ – đã khoác lên mình màu xanh áo lính. Chú được biên chế vào Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 thuộc Quân đoàn 1, và bắt đầu những ngày tháng quân trường đổ mồ hôi tại vùng đất Bắc Thái (Thái Nguyên ngày nay). Đó là những ngày tháng rèn luyện gian khổ để chuẩn bị tinh thần và thể lực cho một cuộc chiến khốc liệt đang chờ đợi phía trước.
Chảo lửa biên giới Tây Nam (1978)
Tháng 4 năm 1978, tiếng súng báo động vang lên, đơn vị của chú nhận lệnh "Nam tiến", trực tiếp tham chiến tại tuyến lửa biên giới Đồng Tháp. Những cái tên như huyện Hồng Ngự, chiến trường Tân Công Chí, kênh Năm Xã, hay Tân An đã in hằn trong tâm trí chú bởi những trận đánh giáp lá cà vô cùng ác liệt. Nơi đây, ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng như một sợi chỉ.
Chiến sự ngày một leo thang. Đến tháng 12 năm 1978, đơn vị nhổ trại, hành quân về Châu Đốc (An Giang), đóng quân dọc theo tuyến kênh Vĩnh Tế lịch sử và khu vực cửa khẩu Tịnh Biên. Trong những đêm gió biên thùy buốt lạnh, những người lính trẻ nằm ôm súng chốt giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, sẵn sàng đội hình chờ lệnh phản công.
Tiến quân sang đất Phật (1979)
Khoảnh khắc giao thời cuối năm 1978, đầu năm 1979, chiến dịch phản công và làm nghĩa vụ quốc tế chính thức bắt đầu. Đơn vị của chú rầm rập vượt biên giới, mang theo sứ mệnh giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng.
Ngày 7 tháng 1 năm 1979 – một ngày lịch sử – mũi tiến quân của đơn vị thần tốc hướng về tỉnh Kampong Speu để giải vây cho đài phát thanh của Quân khu 9 (nong phanh). Địch điên cuồng chống trả, tặc phá hỏng cây cầu huyết mạch nhằm chặn bước tiến. Dưới làn đạn, những người lính vừa chiến đấu, vừa xắn tay áo sửa cầu để mở đường máu tiến lên. Dấu chân của người lính tình nguyện Việt Nam sau đó tiếp tục in đậm trên hành trình truy quét tàn quân địch vòng quanh các tỉnh Kampong Chhnang, Battambang, Pursat và Takeo.
Trận chiến lịch sử tại Tượng Lăng và những vết thương rỉ máu (1980 - 1981)
Nhắc đến đất Campuchia, ký ức khốc liệt nhất dội về chính là trận đánh lớn tại núi Tượng Lăng (khu vực Lộ 4, tỉnh Takeo). Đó là một chiến dịch quy mô khổng lồ với sự phối hợp tác chiến của 8 sư đoàn bộ binh, cùng sức mạnh hủy diệt của không quân ném bom yểm trợ. Trận ấy, quân ta đại thắng, phá hủy hoàn toàn một kho vũ khí và lương thực khổng lồ của địch. Trong điều kiện chiến trường thiếu thốn trăm bề, bộ đội ta lấy cả những tấm vải dù chiến lợi phẩm cắt may thành quần áo để mặc, tiếp tục bám trụ chiến đấu.
Nhưng chiến thắng nào cũng phải đánh đổi bằng máu. Cũng tại mặt trận Takeo này vào năm 1980, chú dính mảnh đạn, bị thương lần thứ nhất và phải lùi về tuyến sau, điều trị tại Bệnh viện 121 (Cần Thơ) ròng rã 4-5 tháng.
Vết thương vừa khép miệng, kéo da non, người lính ấy lại ba lô trên vai, nằng nặc xin quay về đơn vị. Lúc này, đồng đội đang đóng tại thị trấn Leach (tỉnh Pursat) và phải luồn sâu vào khu vực suối Lồ Ồ, áp sát biên giới Thái Lan. Rừng thiêng nước độc, hành quân bộ vắt kiệt sức lực, có những lúc lương thực cạn kiệt, bộ đội phải đốt lựu đạn màu làm ám hiệu để máy bay trực thăng thả gạo và nhu yếu phẩm tiếp tế xuống giữa rừng già.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trong chốn "rừng thiêng nước độc" ấy, vào tháng 2 năm 1980, chú lại bị thương lần thứ hai khi đang chốt giữ biên giới. Lần này, chú được chuyển thẳng về Bệnh viện 115 ở Sài Gòn. Nhưng lửa thử vàng, gian nan thử sức, đến cuối năm 1981, khi sức khỏe vừa hồi phục, chú lại một lần nữa tái ngũ, quay về chốn cũ thị trấn Leach (Pursat) để sát cánh cùng anh em cho đến ngày tàn cuộc chiến.
Trở về với đời thường (1982)
Mùa xuân năm 1982, sau khi đón cái Tết cổ truyền cuối cùng nơi xứ người, chú nhận lệnh rút quân về nước. Đơn vị tập kết tại Đoàn an dưỡng 784 (Dĩ An, Sông Bé – nay là Bình Dương) để những người lính được nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe.
Đến tháng 4 năm 1982, chú được chuyển ra Đoàn 200 thuộc Quân khu 4 (Nghệ An) để hoàn tất thủ tục chính sách. Chú chính thức phục viên, khép lại 5 năm quân ngũ (1977 - 1982) đầy máu, nước mắt và cả những vinh quang thầm lặng.
Rời tay súng, chú chuyển ngành và chọn một vùng đất mới để gắn bó phần đời còn lại. Vùng đất Hòn Đất anh hùng của tỉnh Kiên Giang đã trở thành quê hương thứ hai, nơi người cựu binh năm xưa xây dựng mái ấm, mang theo niềm tự hào về một thời tuổi trẻ đã sống, chiến đấu và cống hiến trọn vẹn cho hòa bình.



