Cựu chiến binh

Ông Nguyễn Văn Bầu và ký ức Tân Mỹ sau giải phóng

Vĩnh Long19/11/2025Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, cùng với toàn huyện, nhân dân vùng cù lao Lá, Tân Điểm tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khai hoang phục hóa, tập trung phát triển sản xuất ổn định đời sống.

Vùng cù lao Lá, Tân Điểm bị chiến tranh tàn phá, nhiều vùng đất bị bỏ hoang, cây cối rậm rạp, còn sót lại bom, mìn. Trong chiến tranh, dân đi tản cư tứ tán các nơi khác, chỉ còn một ít hộ bám lại địa phương sinh sống. Đất đai tuy rộng, nhưng bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa, năng suất thấp. Cơ sở hạ tầng hầu như không có gì: “không điện, không đường, không trường, không trạm”.

Từ năm 1976-1979, để phát triển sản xuất, tận dụng nguồn tài nguyên đất đai, khắc phục tình trạng thiếu lương thực, Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung (huyện Bình Đại) phát động đưa nhân dân qua cù lao khai hoang, phục hóa, san lắp hố bom, trồng cây, sản xuất lúa. Tuy nhiên, việc quản lý và hiệu quả sản xuất của nhân dân còn rất khó khăn, năng suất không cao do hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư khai thác để sản xuất, nguồn kinh tế chủ yếu là khai thác củi, cá tép tự nhiên nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn, nhiều người không bám được, bán đất trở về quê cũ.

Năm 1980, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri có chủ trương quy hoạch 200 ha sản xuất tại Nông trại Huyện đội, trong đó có trại giam Công an Ba Tri (K 21). Kết quả bước đầu không cao. (xem lại?)

Ngày 02-2-1983, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 72/QĐ-UBND về việc qui hoạch địa giới, cù lao Lá (xã Phú Long, Bình Đại) sáp nhập vềxã Mỹ Chánh Hòa, huyệnBa Tri, để quản lý, sản xuất phát triển kinh tế.

Đầu năm 1983, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri có chủ trương thành lập tiểu đoàn Lao động huyện, đóng tại rạch Đình - cù lao Lá, gồm 04 đồng chí, do đồng chí Trần Văn Hương làm tiểu đoàn trưởng, các đồng chí Mười Đức, Sáu Thạnh, Nguyễn Văn Lớn làm Tiểu đoàn phó. Song song đó, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện thành lập Ban quản lý Công trình trồng Dừa Quyết Thắng Ba Tri (được gọi là Nông trường Quyết Thắng), gồm 04 đồng chí, do đồng chí Hồ Công Khanh làm Giám đốc Nông trường, đồng chí Lê Văn Chót làm Phó Giám đốc kiêm Bí thư Chi bộ Nông trường, đồng chí Hồ Văn Khuynh, Phó Giám đốc và đồng chí Đặng Văn Tiển làm Kế toán, cơ quan đóng tại đầu Kênh Thầy Cai, quản lý 100 ha đất và 40 lực lượng lao động tại Nông trường.

Tháng 8-1983, giải thể tiểu đoàn lao động huyện sáp nhập vào Ban giám đốc Nông trường.

Tháng 01-1984, Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện điều đồng chí Nguyễn Văn Đạt, thay cho đồng chí Hồ Công Khanh rút về huyện.

Từ năm 1984-1987, Ban giám đốc Nông trường Quyết Thắng gồm có 05 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Đạt làm Giám đốc (thay cho đồng chí Hồ Công Khanh), các phó Giám đốc là đồng chí Lê Văn Chót - kiêm Bí thư chi bộ, đồng chí Đặng Văn Ron phụ trách sản xuất, kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Văn Yên phụ trách quân sự, đồng chí Trần Văn Hương phụ trách lực lượng lao động.

Tháng 3 năm 1984, Huyện uỷ, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri đã huy động toàn bộ lực lượng trong toàn huyện đắp cống ngăn mặn (cống Vàm Hồ) và con lộ từ ấp Mỹ Quý, xã Tân Xuân đi đến K20 dài 11km, cũng là con đê ngăn mặn của huyện.

Tháng 8-1986, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện tổ chức khởi công làm cống Vàm Hồ. Đến tháng 8-1989, thực hiện công đoạn cuối để bắt nước, chuẩn bị hoàn thành toàn bộ công trình đưa vào khai thác, sử dụng.

Thực hiện theo sự điều động của Huyện ủy, năm 1988, đồng chí Lê Văn Chót làm Giám đốc Nông trường, thay cho đồng chí Nguyễn Văn Đạt được rút về huyện.

Để cải tạo vùng đất rộng lớn này của nông trường, huyện tập trung đầu tư công tác làm thủy lợi. Hàng loạt công trình kinh, mương, cống, đập được xây dựng hoàn chỉnh bằng công sức của tất cả lực lượng trong hệ thống chính trị và toàn dân góp phần tích cực trong việc cải tạo đất đai, mở rộng diện tích canh tác, gắn với từng bước hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, cầu, đường giao thông, định hình khu dân cư cho vùng đất mới. Đây là ý tưởng lớn của đồng chí Huỳnh Văn Anh (Chín Anh), nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, đồng thời cũng là người góp công sức rất lớn trong việc cải tạo vùng đất này.

Năm 1988, Ban Giám đốc gồm 03 đồng chí, do đồng chí Lê Văn Chót (Mười Chót) làm Giám đốc - kiêm Bí thư chi bộ, phó Giám đốc là đồng chí Đặng Văn Ron và đồng chí Thái Văn Hoàng. Nông trường có tổng diện tích là 747,86 ha; trong đó, Huyện đội Ba Tri quản lý sản xuất 111,18 ha; nhân dân xã Phú Long (huyện Bình Đại) nhận sản xuất 280 ha; Nông trường quản lý sản xuất 356,68 ha, trong đó bao gồm: xây cất cơ quan Nông trường, trạm xá, trường học (5 ha), diện tích kênh, rạch, đê, lộ giao thông (42,4 ha), diện tích thổ cư cấp cho 87 hộ (37,7 ha), diện tích vườn cò, sân chim (32 ha), diện tích Nông trường trực tiếp sản xuất (18,3 ha).

Thực hiện đúng chủ trương, nhưng những năm đầu còn gặp rất nhiều khó khăn, do đất đai chưa được cải tạo tốt. Kế hoạch sản xuất của Nông trường là trồng dừa xen 1 vụ lúa, theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, nhưng kết quả không cao, dừa không phát triển được, do hệ thống thuỷ lợi chưa rửa hết được phèn, mặn nên ảnh hưởng đến sản xuất, năng suất, sản lượng đạt được không cao.

Để cải thiện đời sống, tăng thêm nguồn thu nhập, Ban quản lý Nông trường, tổ chức thêm dịch vụ ngành nghề như che đường, xay lúa, dệt chiếu, chăn nuôi bò, vịt để tạo việc làm cho nhân dân lúc nhàn rỗi, nhưng cũng không thu hút được lao động.

Để thực hiện việc cải tạo vùng đất này, tháo rửa hết phèn, mặn, ngày 17-1-1990, công trình cống Vàm Hồ (hiện nay thuộc ấp Tân Quý và Tân Thành, xã Tân Mỹ) được khánh thành và đi vào hoạt động. Khi công trình đưa vào sử dụng đã phát huy tác dụng ngọt hóa, tiêu phèn cho 17.000 héc ta ruộng đất của huyện Ba Tri - Giồng Trôm (kéo dài 19 km từ cầu Bình Chánh đến Vàm Hồ).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn