Ông Nguyễn Xuân Hải - Lá cờ hạ xuống ở Sở chỉ huy Quân đoàn 2
Lời kể/ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Xuân Hải, nguyên Trung đội trưởng Trung đội DKZ, Đại đội 4, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn 95, về những ngày tháng 3/1975 khi Trung đoàn 95 đánh cắt đường 19, truy kích địch rút chạy, tiến vào thị xã Pleiku và chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 của quân đội Sài Gòn.
Trong ký ức của ông Nguyễn Xuân Hải, tháng 3 năm 1975 ở Gia Lai là những ngày không thể nào quên. Đó là những ngày tiếng súng trên đường 19 vang lên như hiệu lệnh mở màn, những ngày đoàn quân từ rừng núi tiến về thị xã Pleiku, những ngày người lính trẻ của Trung đoàn 95 vừa đánh địch, vừa chứng kiến một thế trận lớn của đối phương tan vỡ rất nhanh ngay trước mắt mình.
Ông Hải sinh ra và lớn lên ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Khi mới hơn 17 tuổi, gác lại những ước mơ riêng của tuổi trẻ, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Cũng như nhiều thanh niên miền Bắc lúc bấy giờ, ông ra đi với một ý nghĩ giản dị: đất nước còn chia cắt, miền Nam còn chiến tranh thì tuổi trẻ của mình không thể đứng ngoài. Sau thời gian huấn luyện tại Sư đoàn 304, tháng 11 năm 1971, ông được biên chế về Tiểu đoàn K63, Trung đoàn 95 và đi luôn vào Nam chi viện cho chiến trường.
Con đường vào chiến trường không hề nhẹ nhàng. Người lính trẻ từ Phú Thọ đi qua những ngày hành quân dài, qua rừng núi, suối sâu, thiếu thốn và bom đạn. Nhưng chính những ngày ấy đã làm ông trưởng thành. Trong đội hình Trung đoàn 95, ông cùng đồng đội có mặt ở nhiều địa bàn thuộc tỉnh Gia Lai, bám trụ trên vùng chiến trường ác liệt, đặc biệt là khu vực đèo Mang Yang và trục đường 19. Đây là tuyến giao thông chiến lược quan trọng nối đồng bằng duyên hải với Tây Nguyên, là con đường tiếp viện, cơ động của quân đội Sài Gòn lên Pleiku, Kon Tum.
Năm 1975, khi Chiến dịch Tây Nguyên được chuẩn bị, Trung đoàn 95 được giao một nhiệm vụ rất quan trọng: đánh cắt giao thông đường 19, đoạn từ Mang Yang đến Lệ Trung, nhằm chia cắt, chặn đứng sự tiếp viện của địch từ đồng bằng lên Tây Nguyên, đồng thời nghi binh, tạo thế cho đại quân đánh vào Buôn Ma Thuột. Lúc này, Nguyễn Xuân Hải là Trung đội trưởng Trung đội DKZ, Đại đội 4, Tiểu đoàn 63.
Với người lính trực tiếp ở đơn vị hỏa lực, nhiệm vụ ấy không phải chỉ là một mũi tên trên bản đồ. Đó là những ngày chiếm lĩnh trận địa trong bí mật, đưa pháo vào vị trí, ngụy trang, chờ lệnh nổ súng. Đường 19 khi ấy là nơi địch luôn cảnh giác, vì chúng hiểu nếu tuyến đường này bị cắt, hệ thống phòng thủ Tây Nguyên sẽ bị cô lập với đồng bằng. Còn với Trung đoàn 95, cắt được đường 19 nghĩa là góp phần “khóa” một cửa tiếp viện quan trọng của đối phương.
Đêm 3 rạng sáng 4 tháng 3 năm 1975, tiếng súng của Trung đoàn 95 vang lên trên đường 19. Các đơn vị tiến công căn cứ Ayun, đánh ấp Phú Yên và các chốt của địch. Căn cứ Ayun là một trong những vị trí mạnh trên tuyến này, do một tiểu đoàn bảo an đóng giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt, nhưng bộ đội ta đã làm chủ mục tiêu, thu nhiều vũ khí, trong đó có pháo và đạn dược. Từ thời điểm ấy, đường tiếp tế chủ yếu của địch từ đồng bằng lên Tây Nguyên bị cắt đứt.
Với ông Hải và đồng đội, thắng lợi ban đầu ấy làm tinh thần toàn đơn vị thêm vững. Họ hiểu rằng trận đánh của Trung đoàn 95 không đứng riêng lẻ. Nó là một phần trong thế trận chung của Chiến dịch Tây Nguyên. Ở phía trước, Buôn Ma Thuột sẽ là đòn đánh then chốt. Ở đường 19, Trung đoàn 95 phải giữ cho địch không thể đưa quân từ đồng bằng lên ứng cứu, không thể dễ dàng cơ động khi thế trận ở Tây Nguyên bắt đầu rung chuyển.
Sau Buôn Ma Thuột, tình hình chiến trường chuyển biến rất nhanh. Quân đội Sài Gòn rơi vào thế bị động, hoang mang. Đến ngày 16 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 95 theo dõi tình hình và sẵn sàng đánh địch rút chạy. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 2 theo đường 19 cơ động về hướng đường 14 để chặn đánh địch từ Kon Tum rút chạy về Pleiku; Tiểu đoàn 4 xuyên rừng tiến về hướng Phú Bổn để tham gia đánh địch rút chạy trên đường 7.
Trưa ngày 16 tháng 3, đơn vị của ông Hải tiến đánh và truy kích địch ở cầu Lệ Cần, nay thuộc xã Tân Bình, huyện Đak Đoa, rồi phát triển về quận Lệ Trung, nay là thị trấn Đak Đoa. Đó là thời điểm địch không còn giữ được đội hình vững chắc. Có nơi chúng chống trả, có nơi tháo chạy, có nơi bỏ lại phương tiện, vũ khí, kho tàng. Nhưng với người lính truy kích, không vì thấy địch rối loạn mà được phép chủ quan. Mỗi ngã đường, mỗi cầu, mỗi cụm nhà, mỗi khu vực có xe địch bỏ lại đều có thể còn ổ kháng cự hoặc phục kích.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 17 tháng 3, Tiểu đoàn 63 nổ súng truy kích địch và chiếm lĩnh Trại Thiết giáp Phù Đổng. Trời còn mờ tối, thị xã Pleiku ở phía trước chưa hoàn toàn yên tiếng súng. Những người lính phải tiến rất nhanh để không cho địch kịp co cụm, đồng thời phải giữ đội hình, giữ liên lạc và chiếm các mục tiêu quan trọng trước khi đối phương kịp phá hủy hoặc rút hết.
Khoảng 6 giờ 30 phút, mũi tiến công do ông Nguyễn Xuân Hải phụ trách bắt được 14 tên địch đang chạy trốn, trong đó có một đại úy. Đối với người lính trẻ lúc ấy, bắt sống được đối phương không chỉ là kết quả của một mũi truy kích. Nó còn cho thấy tinh thần địch đã xuống rất nhanh. Những người từng dựa vào hệ thống căn cứ, xe thiết giáp, sân bay, kho tàng và sở chỉ huy nay bỏ chạy trong hoảng loạn.
Đến khoảng 9 giờ sáng ngày 17 tháng 3, Tiểu đoàn 63 nhận lệnh chiếm giữ Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 của quân đội Sài Gòn. Đây là một mục tiêu có ý nghĩa rất lớn. Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 từng là đầu não chỉ huy của quân đội Sài Gòn ở Tây Nguyên. Từ đây, chúng điều động lực lượng, kiểm soát các căn cứ, sân bay, kho tàng và hệ thống quân sự trong vùng. Khi những người lính Trung đoàn 95 tiến đến, địch đã tháo chạy hết.
Trong giây phút ấy, ông Nguyễn Xuân Hải leo lên cổng Sở Chỉ huy Quân đoàn 2, tháo lá cờ của chính quyền Sài Gòn vứt xuống đất, rồi cùng đồng đội tiến vào chiếm giữ mục tiêu. Đó là một hành động rất cụ thể, nhưng mang sức nặng biểu tượng lớn. Lá cờ bị hạ xuống không chỉ đánh dấu việc một cơ quan quân sự bị chiếm. Nó như dấu chấm hết cho bộ máy chỉ huy của địch ở Gia Lai, nơi từng được xem là một trung tâm phòng thủ quan trọng của chúng tại Tây Nguyên.
Cùng ngày, Trung đoàn 95 tiến vào giải phóng thị xã Pleiku, chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 2, sân bay Cù Hanh, hệ thống kho tàng của địch, thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh và bắt sống, gọi hàng nhiều binh lính đối phương. Nhưng với những người lính như ông Hải, chiến thắng không chỉ là chiếm mục tiêu quân sự. Ngay khi tiếp quản thị xã, Trung đoàn 95 nhanh chóng tổ chức nhiều đội công tác phối hợp với Thị đội Pleiku tuyên truyền, giáo dục quần chúng, ổn định an ninh trật tự.
Đó là một phần rất quan trọng của ngày giải phóng. Một thị xã vừa đổi chủ không thể chỉ có tiếng súng và cờ chiến thắng. Cần có người trấn an dân, giải thích chính sách, thu gom vũ khí, giữ kho tàng, bảo vệ tài sản, ngăn hỗn loạn, giúp người dân hiểu rằng chính quyền cách mạng đã về. Những người lính vừa truy kích địch xong lại chuyển sang nhiệm vụ giữ gìn trật tự, làm công tác quần chúng, ổn định đời sống. Chiến tranh trong khoảnh khắc ấy chuyển sang một công việc khác: giữ bình yên cho vùng vừa giải phóng.
Nhiều năm sau, khi nhắc lại ngày 17 tháng 3 năm 1975, ông Hải không chỉ nhớ niềm tự hào. Ông còn nhớ sự mất mát. Để đánh tan phòng tuyến của địch, không ít đồng đội của ông đã nằm lại chiến trường, có người đến nay vẫn chưa xác định được hài cốt. Trong lời kể của ông, chiến thắng không bao giờ tách khỏi những gương mặt đồng đội. Có người cùng hành quân, cùng ăn cơm vắt, cùng nằm trong công sự, cùng nói chuyện quê nhà, nhưng không có mặt trong ngày toàn thắng.
Chính vì vậy, sau chiến tranh, ông Nguyễn Xuân Hải không dừng lại ở vai trò một nhân chứng kể chuyện cũ. Ông cùng các cựu chiến binh Trung đoàn 95 không quản khó khăn đi thu thập tư liệu, gặp gỡ nhân chứng, lần tìm thông tin để giúp các gia đình tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Với ông, đó là món nợ tình nghĩa với đồng đội. Người còn sống có trách nhiệm đi tìm người đã nằm lại.
Có lần, qua nhiều năm xác minh, thu thập tài liệu, ông tìm được phần mộ của một đồng đội tại khu rừng ở xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang. Khi liên hệ được với gia đình để đưa hài cốt liệt sĩ về quê ở Tuyên Quang, ông mừng lắm. Niềm vui ấy không ồn ào, nhưng rất sâu. Bởi mỗi hài cốt được tìm thấy là một người lính bớt cô đơn giữa rừng núi, một gia đình có nơi thắp hương, một lời hứa với đồng đội được thực hiện thêm một phần.
Câu chuyện của ông Nguyễn Xuân Hải vì vậy không chỉ là câu chuyện về ngày chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 2. Đó là câu chuyện về một người lính từ Phú Thọ vào Tây Nguyên, đi qua đường 19, Mang Yang, Lệ Cần, Lệ Trung, Pleiku; chứng kiến sự tan rã của địch ở Gia Lai; rồi sau hòa bình lại tiếp tục đi tìm đồng đội. Trong đời ông, chiến tranh không khép lại hoàn toàn vào ngày tiếng súng im. Nó còn tiếp tục trong những chuyến đi tìm mộ, trong những buổi gặp mặt truyền thống, trong mỗi lần kể lại cho thế hệ sau hiểu chiến thắng đã được đánh đổi bằng gì.
Lá cờ bị hạ xuống ở Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 là khoảnh khắc chiến thắng. Nhưng những nén hương ông thắp cho đồng đội sau chiến tranh mới là phần lặng sâu của ký ức. Một người lính có thể đi qua trận đánh bằng lòng dũng cảm; nhưng để sống tiếp với ký ức đồng đội, cần thêm rất nhiều tình nghĩa. Và chính tình nghĩa ấy làm cho câu chuyện của Nguyễn Xuân Hải trở thành một mảnh ký ức đẹp về Trung đoàn 95 - “Đoàn Mang Yang”, đơn vị đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Gia Lai và Chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân năm 1975.
Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Gia Lai: ông Nguyễn Xuân Hải sinh ra và lớn lên ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; nhập ngũ khi hơn 17 tuổi, sau thời gian huấn luyện tại Sư đoàn 304, tháng 11/1971 được biên chế về Tiểu đoàn K63, Trung đoàn 95 và vào chiến trường. Năm 1975, ông là Trung đội trưởng Trung đội DKZ, Đại đội 4, Tiểu đoàn 63; Trung đoàn 95 được giao đánh cắt đường 19 từ Mang Yang đến Lệ Trung để chia cắt, chặn tiếp viện của địch và nghi binh tạo thế cho trận Buôn Ma Thuột.
Diễn biến ngày 16–17/3/1975 cũng dựa trên Báo Gia Lai: đơn vị ông Hải truy kích địch ở cầu Lệ Cần, Lệ Trung; rạng sáng 17/3, Tiểu đoàn 63 chiếm Trại Thiết giáp Phù Đổng; khoảng 6 giờ 30, mũi tiến công do ông Hải phụ trách bắt 14 tên địch, trong đó có 1 đại úy; khoảng 9 giờ, ông cùng đơn vị chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 và ông kể lại việc leo lên cổng tháo cờ của chính quyền Sài Gòn.
Phần sau chiến tranh được đối chiếu từ Báo Gia Lai: ông Hải cùng cựu chiến binh Trung đoàn 95 thu thập tư liệu, gặp nhân chứng, giúp nhiều gia đình tìm kiếm, đưa hài cốt liệt sĩ về quê; có trường hợp ông tìm được phần mộ đồng đội tại khu rừng xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang và liên hệ gia đình đưa hài cốt về Tuyên Quang.


