ông nội em - cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Khánh (mất 05/1993)
Trong cuộc sống thanh bình của đất nước ngày hôm nay, chúng ta không bao giờ thấy bom đạn, đổ nát hay những tiếng súng, tiếng gầm rú của máy bay xé nát bầu trời. Để có được hoà bình, đã có biết bao những con người đã ngã xuống, đã chiến đấu và hi sinh vì nền độc lập tự do cho dân tộc. Đó là những người lính, những anh bộ đội cụ Hồ sẵn sàng lên đường cứu nước theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Ông nội em cũng là một trong số hàng triệu những người lính như vậy.
Ở phòng thờ nhà em có treo một khung ảnh bên trong là bằng tổ quốc ghi công. Đó là sự ghi nhận về những hi sinh, đóng góp vì hòa bình của đất nước cho thế hệ mai sau của ông nội em - Liệt sỹ Nguyễn Ngọc Khánh. Nghe lời kể của bà nội em. Ông nhập ngũ năm 1963. Sau những tháng huấn luyện tân binh ở Tiền Hải, ông lên đường chiến đấu vào chiến trường Khe Sanh ( Quảng Trị) một trong những chiến trường ác liệt nhất những năm tháng chiến tranh đó.
Nơi chiến trường ấy, ông cùng các đồng đội sống trong những căn hầm chật chội, có thể đổ sập xuống bất cứ lúc nào bởi bom đạn của kẻ thù. Điều kiện sống thiếu thốn, ăn không đủ no, áo không đủ mặc, rách tả tơi sau những đợt hành quân. Đối mặt với những hiểm nguy, những vũ khí tối tân, những đợt tấn công điên cuồng của kẻ thù. Hàng ngày, ông cùng các đồng đội vừa chiến đấu vừa sửa chữa mặt đường bị bom đạn cày xới, phá huỷ để cho những đoàn xe chở vật tư, đạn dược cung cấp cho tiền tuyến. Có những lúc chưa kịp bưng bát cháo lên húp, máy bay địch đã rải bom oanh tạc mọi người lại phải chui xuống hầm ẩn nấp . Sau đó đợi máy bay địch đi rồi lại tiếp tục sửa đường và chiến đấu. Ông kể với bà rằng hỏa lực của địch rất mạnh. Tuy nhiên, hỏa lực của ta cũng đã được trang bị rất tốt, có những thời điểm mạnh áp đảo. Đáng sợ nhất là những trận bom B52 rải thảm hoặc đánh tọa độ. Lượng bom đạn quá lớn, địch bất ngờ tập kích, máy bay bay tầm cao hỏa lực ta không ngăn chặn được, nên gây thương vong lớn. Có trận, đồng đội bị bom hy sinh nhiều, có trận cả tiểu đội hai chục người thương vong hơn nửa. Còn khi đánh nhau, thì hầu như địch kháng cự yếu ớt, lo phòng thủ hoặc rút chạy, nên không gây thương vong nhiều cho bộ đội ta. Chiến trường ác liệt, gian khổ là vậy nhưng ông và các đồng đội chưa bao giờ lo sợ, chùn bước, luôn lạc quan, tin tưởng vào một ngày sẽ chiến thắng, đánh hết giặc trở về quê nhà. Còn nếu có hi sinh thì đó cũng chính trách nhiệm, bổn phận của một người lính vì dân vì nước. Những trận chiến cứ kéo dài cho đến năm 1968 ông bị thương trong một trận đánh ác liệt giữa quân ta và địch. Viên đạn găm vào phổi khiến ông mất máu rất nhiều và được đưa về điều trị tại bệnh viện dã chiến. Sau này do vết thương quá nặng lại không thể phẫu thuật gắp viên đạn nên ông được trở về phục viên tại quê nhà. Năm 1969, một đám cưới giản dị, ấm cúng đã diễn ra giữa anh thương binh phục viên là ông của em và cô công nhân địa chất ( là bà của em). Ông bà có 4 người con trong đó có bố em. Nhưng hậu quả của chiến tranh luôn hiện hữu. Viên đạn trong phổi hành hạ ông suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời. Bà em kể ngày mùa hè nhưng ông lúc nào cũng đắp chăn, đau đớn nhiều lúc không thở nổi. Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1993, ông nội em đã trút hơi thở cuối cùng kết thúc một cuộc đời của một cựu chiến binh với thời tuổi trẻ oanh liệt.
Để có cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay là sự hi sinh, đổ máu của biết bao thế hệ cha ông - những người đã góp phần xương máu của mình vào sự nghiệp giải phóng dận tộc, thống nhất đất nước. Chúng em thế hệ tương lai nguyện hứa sẽ học hành chăm chỉ, xây dựng đất nước để xứng đáng với sự hi sinh cao cả ấy.


