Cựu chiến binh

ÔNG NỘI – Nhân chứng sống của một thời hoa lửa

Trong những trang sách lịch sử em được học ở trường, chiến tranh hiện lên qua những mốc thời gian, những chiến dịch và chiến công oanh liệt. Nhưng với em, lịch sử còn hiện diện rất gần gũi, giản dị ngay trong chính gia đình mình – đó là câu chuyện về ông nội em, ông Nguyễn Văn Lừng, hiện đang sống tại thôn Nghĩa Môn, xã Bình Thanh, tỉnh Hưng Yên. Qua những lời kể chậm rãi, trầm lắng của ông, em dần hiểu hơn về một thời hoa lửa đầy gian khổ mà hào hùng của dân tộc..

Hưng Yên29/12/2025Nguyễn Đức Minh (Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Minh Tân , xã Bình Thanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những trang sách lịch sử em được học ở trường, chiến tranh hiện lên qua những mốc thời gian, những chiến dịch và chiến công oanh liệt. Nhưng với em, lịch sử còn hiện diện rất gần gũi, giản dị ngay trong chính gia đình mình – đó là câu chuyện về ông nội em, ông Nguyễn Văn Lừng, hiện đang sống tại thôn Nghĩa Môn, xã Bình Thanh, tỉnh Hưng Yên. Qua những lời kể chậm rãi, trầm lắng của ông, em dần hiểu hơn về một thời hoa lửa đầy gian khổ mà hào hùng của dân tộc..

Ông nội em tham gia cách mạng khi vừa tròn mười tám tuổi. Lúc bạn bè đồng trang lứa còn đang say mê với những ước mơ tuổi trẻ, thì ông đã khoác lên mình màu xanh áo lính, bước vào chiến trường đầy khói lửa. Với lý tưởng giản dị mà cao đẹp: “Đất nước còn chiến tranh thì người trẻ phải đi đánh giặc”, ông lên đường nhập ngũ, bắt đầu những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng rất đỗi tự hào. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông cùng đơn vị trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị – một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ. Ông kể rằng đã tham gia ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968; các trận đánh tại Khe Sanh – Tà Rúc – Tà Cơn; Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971. Những chiến dịch ấy đã rèn luyện cho ông ý chí kiên cường và bản lĩnh vững vàng của một người lính cách mạng.

Ông nội em kể rằng, có những ngày hành quân xuyên rừng Trường Sơn, bộ đội phải ăn cơm vắt, uống nước suối, ngủ giữa mưa bom bão đạn. Đặc biệt, trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, ông cùng đơn vị được giao nhiệm vụ chốt giữ cao điểm 311 suốt một tháng trời. Hằng ngày, xe bọc thép của Mỹ – Ngụy liên tục hành quân qua khu vực. Đơn vị của ông đã kiên cường phục kích, bắn cháy nhiều xe tăng, ô tô tải và xe lội nước của địch, góp phần quan trọng vào việc giữ vững trận địa. Ông bảo, có những lúc bom nổ rung chuyển cả quả đồi, đất đá vùi lấp hầm trú ẩn, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Thế nhưng, không ai trong đơn vị lùi bước. Năm 1972, ông lại cùng đơn vị lần thứ ba vào chiến đấu tại Quảng Trị trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lớn tại Quảng Trị và Đường 9 – Nam Lào. Ông cùng đồng đội trong đơn vị lập nhiều chiến công, được trung đoàn tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng 3.

Trong một trận đánh ác liệt, ông bị gãy chân. Ông được chuyển ra Bắc điều trị. Dù vậy, khi vết thương vừa ổn định, ông vẫn tình nguyện trở lại quân ngũ, tiếp tục cầm súng chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng và tiếp tục công tác trong quân đội tại Sư đoàn 301 – Quân khu Thủ đô. Với những cống hiến đó, ông được phong quân hàm Thiếu tá, giữ chức Trung đoàn trưởng C, sau đó nghỉ hưu theo chế độ.

Mỗi khi nhắc đến những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại chiến trường, giọng ông trầm xuống nhưng vẫn chứa bao tự hào. Ông luôn coi sự trở về của mình là một điều may mắn và tự nhủ phải sống thật tốt để xứng đáng với những người đã hy sinh.Những năm tháng chiến đấu gian khổ đã để lại trong ông nhiều vết thương, giờ chân phải của ông vẫn còn vết sẹo dài lắm nên hay bị đau khi trái gió trở trời.

Sau chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ trọn phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Dù tuổi đã cao và đang mắc bệnh u đại tràng 16 năm rồi , nhưng ông luôn sống lạc quan, giản dị. Hằng ngày, ông ngồi trước cửa nhà em với bộ đồ nghề quen thuộc, tỉ mỉ sửa từng chiếc xe đạp, xe máy cho bà con trong thôn. Ông thường nói: “Còn làm được việc là còn vui, giúp được người khác thì mình càng thấy có ích.”Nhìn dáng ông gầy gò, đôi chân từng mang thương tích chiến tranh nhưng đôi tay vẫn khéo léo, tôi cảm nhận rõ nghị lực phi thường của một con người đã đi qua lửa đạn mà vẫn bền bỉ, nhân hậu trong đời thường.

Câu chuyện của ông nội giúp em hiểu rằng, lịch sử không chỉ nằm trên những trang sách khô khan, mà còn hiện hữu trong chính những con người bằng xương bằng thịt, những người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc. Mỗi lời kể của ông như một ngọn lửa nhỏ, âm ỉ mà ấm áp, nuôi dưỡng trong em niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc.Từ câu chuyện của ông, em tự nhủ bản thân phải cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có trách nhiệm hơn để xứng đáng với những hy sinh to lớn ấy.

Với em, ông nội không chỉ là một người lính từng đi qua thời hoa lửa, mà còn là người ông vĩ đại đã truyền cho em bài học quý giá về lòng yêu nước, ý chí và niềm tin vào cuộc sống. Và hơn tất cả, em thấy mình thật hạnh phúc và may mắn khi vẫn còn hàng ngày được gặp, được nhìn, được nghe ông kể về những câu chuyện thời chiến tranh. Cảm ơn ông nội thật nhiều…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ÔNG NỘI – Nhân chứng sống của một thời hoa lửa | Câu chuyện thời hoa lửa