Ông nội tôi, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Tuế 1954
Ông nội tôi – Nguyễn Văn Tuế, sinh năm 1954 tại xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ( nay là tỉnh Hưng Yên ) . Ông sinh ra và lớn lên giữa những cánh đồng phù sa mỡ màu, nơi gió biển lồng lộng thổi qua các rặng phi lao và tiếng chim biển réo rắt mỗi sớm mai. Cuộc sống quê nghèo nhưng bình yên ấy đã nuôi dưỡng trong ông tinh thần cứng cỏi, lòng nhân hậu và sự giản dị – những phẩm chất đã theo ông suốt cả quãng đời quân ngũ.
Năm 1972, khi đất nước còn chìm trong khói của chiến tranh,lúc đó ông mới mười tám tuổi, là cái tuổi đẹp nhất của thời thanh xuân . Nhưng thời ấy, tiếng gọi của Tổ quốc lớn hơn tất cả. Ông tạm biệt mẹ già, cha yếu, anh chị em để bước chân vào vào thời kì gian khổ . Có lần ông nói với tôi : “Ngày đó nghèo lắm, nhưng lòng yêu nước thì chẳng bao giờ nghèo.”
Ông được biên chế về đơn vị chiến đấu tại Hải Phòng và Quảng Ninh – những địa bàn trọng yếu, luôn là mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Bầu trời nơi đó ngày nào cũng rực sáng bởi bom đạn, những tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ rung chuyển cả mặt đất. Những cây cầu, bến cảng, kho hàng… dù bị đánh tan rồi lại dựng lên, cứ thế lặp đi lặp lại như một vòng tròn vô tận.
Trong chiến trường, ông không chỉ là một người lính bình thường. Với phẩm chất chín chắn, thái độ nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao . Ông được giao nhiệm vụ làm cán bộ chính trị. Đó là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, giữ vững tinh thần đơn vị, truyền đạt nhiệm vụ, động viên các người lính khác , và đảm bảo tinh thần đoàn kết trong các hoàn cảnh khó khăn nhất.
Chiến tranh là nơi thử thách con người khắc nghiệt nhất. Không cần kể rằng có những ngày hành quân dưới cơn mưa bom dữ dội, cách tung lên như muốn nút chừng cả dòng người. Có những đêm, băng qua những cánh rừng phòng cháy dở, hơi nóng còn hâm hấp như đang thiêu cháy đôi chân. Những bữa ăn mọi ngày cũng chỉ là một nắm cơm với muối vừng, đôi lúc thêm vài củ khoai. Nhưng những thời gian khó khăn ấy không làm ông bỏ cuộc . Ông và đồng đội cùng nương tựa vào nhau, cùng trên những ngụm nước, từng tấm chăn .
Nói điều ông nhớ nhất không phải là tiếng bom, mà là tình đồng đội-những tình cảm chỉ có ở chiến trường, nơi sống chết đang cận kề. Những người lính không cùng quê, không cùng họ, nhưng cùng một tình yêu Đó là bảo vệ tổ quốc. Đây là sợi dây gắn kết tình anh em gắn kết bền chặt Đến mức chỉ một ánh mắt cũng hiểu trong lòng đang nghĩ gì .
Sau khi đất nước thống nhất, hành trình của ông vẫn tiếp tục. Kỳ một chiến sĩ trẻ tuổi ông đã trở thành một cán bộ chính trị nhiều kinh nghiệm, gắn bó với đơn vị không chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng tình yêu nghề và sự tận tâm. suốt những 5 tháng ấy, ông luôn sống với phẩm chất người lính cụ Hồ : giản dị, kỷ luật, nhiệt thành và luôn hết lòng vì đồng đội và nhân dân.
Đến năm 1988, sau 16 năm cống hiến vì đất nước, ông được về quê hương để chế độ . Bước xuống từ chiếc xe đơn vị, bộ quân phục đã đặt màu , chiếc mũi cuối đã sờn góc, nhưng đôi mắt ông thì sản như ngày rời quê hương . Bà, bố và chúng tôi đứng trước ngõ nhà vừa khóc vừa cười, không chạy lại và ôm chầm họ.
Từ đó đến nay, người không còn trong quân ngũ, nhưng dáng dấp người lính vẫn hiện diện trong từng bước đi, từng câu nói của ông. Những câu chuyện ông kể cho con cháu không phải khoe khoang mà là để nhắc nhở rằng hòa bình hôm nay đã được đánh đổi bằng máu xương của các chiến sĩ đã hy sinh vì đất nước.
Tôi hoa lửa ông nội tôi không chỉ những năm tháng chiến tranh, mà là biểu tượng của niềm tin, lòng dũng cảm và sự hy sinh lặng thầm. Ông là minh chứng cho một thời hào hùng mà dân tộc của ta mãi mãi khắc ghi trong tim.



