ÔNG NỘI TÔI – VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG TRONG LÒNG ĐẤT VĨNH LINH
“Có những con người đi qua chiến tranh không để lại những trang hồi ký dày, nhưng cuộc đời họ lại chính là một phần của lịch sử.”

ÔNG NỘI TÔI – VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG TRONG LÒNG ĐẤT VĨNH LINH
Trong gia đình tôi, có một người như thế – Ông nội tôi, ông Trần Văn Bích.
Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Vĩnh Linh – vùng đất từng được biết đến như một chiến khu kiên cường trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Trong những năm tháng khốc liệt ấy, khi bom đạn trút xuống từng mái nhà, ruộng đồng và làng mạc, ông đã trực tiếp tham gia phục vụ kháng chiến tại nhiều địa bàn của Vĩnh Linh, trong đó có Vĩnh Nam, Nam Phú, Nam Hùng...
Ông cùng đồng đội đào địa đạo, đào giao thông hào, xây dựng những công trình phòng tránh bom đạn và phục vụ chiến đấu, góp phần bảo vệ nhân dân, bảo vệ lực lượng cách mạng.
Đó là những điều tôi được nghe kể lại từ gia đình.
Ngày còn nhỏ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “chiến tranh”. Tôi chỉ biết ông là một người ít nói, sống giản dị, và đôi khi kể cho con cháu nghe những câu chuyện về những năm tháng ở Vĩnh Linh. Những câu chuyện ấy thường không dài. Ông cũng chẳng bao giờ kể về mình như một người đã làm được điều gì lớn lao.
Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng, phía sau sự giản dị ấy là cả một thế hệ đã sống và chiến đấu bằng một nghị lực phi thường.
NHỮNG ĐƯỜNG HẦM ĐƯỢC ĐÀO BẰNG ĐÔI BÀN TAY
Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Đảng ủy Vĩnh Linh đã tiến hành chỉ đạo đào hầm. Từ tháng 7-1966 đến tháng 10-1968, và từ tháng 4 đến cuối năm 1972 cuộc đọ sức giữa ta và địch bước vào giai đoạn hết sức quyết liệt. Để cứu nguy cho những thất bại về quân sự trên chiến trường, đế quốc Mỹ điên cuồng đưa chiến tranh phá hoại lên tầm cao mới với sự hủy diệt khủng khiếp. Hàng vạn tấn bom đạn, chất độc hóa học đã trút xuống Vĩnh Linh. Tính bình quân mỗi cây số vuông phải chịu 600 tấn bom và 800 quả đạn pháo.
Trước tình hình đó, để đảm bảo cho cuộc chiến đấu, bảo vệ được tính mạng, tài sản cũng như đời sống của nhân dân, yêu cầu về vấn đề phòng tránh được đặt ra một cách cấp bách. Đảng ủy Vĩnh Linh đã kịp thời đề ra những chủ trương lớn có tác dụng đánh bại âm mưu hủy diệt của chúng: công sự hóa toàn khu vực, biến Vĩnh Linh thành quê hương của hầm hào, địa đạo.
Một khẩu hiệu lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Vĩnh Linh trong những năm đánh Mỹ: “Đảng vững, dân vững, hầm vững”; “Đào hầm, đào hầm nữa! Chừng nào bên kia sông Bến Hải còn Mỹ ngụy, Vĩnh Linh ta còn phải đào hầm!”.
Với tinh thần đó, một loại hầm hào được hình thành. Đâu đâu cũng có hầm, có hào với nhiều chủng loại, chức năng khác nhau. Hầm để ở, hầm trạm xá, hầm hợp tác xã mua bán, hầm bệnh viện, hầm trường học, hầm nhà trẻ, hầm để chăn nuôi, hầm để thóc gạo… và còn cả hầm dự trữ. Hầm này để chỗ cho bộ đội đi qua có chỗ nghỉ lại, nếu quân địch tràn sang, đó là nơi dấu quân trước khi xuất kích đánh bộ binh địch. Ngoài ra còn có loại “hầm lưu động”. Đó là những bộ khung bằng tre kết cấu theo hình chữ A.

Lúc cày cấy ở các cánh ruộng nước, không đào hầm được, người ta đưa nó ra đồng dựng rải rác gần chỗ làm việc, đắp bên ngoài một lớp đất mỏng hoặc rơm rạ xung quanh để tránh tạm, cày cấy xong lại dỡ hầm đem về nhà.
Hệ thống hầm hào của Vĩnh Linh cũng không ngừng thay đổi để chống trả có hiệu quả hơn. Từ cái hầm tròn một người sơ sài đến cái hầm bằng có cái nắp, rồi hầm chữ A. Từ chỗ làm hầm để phòng xa đến lúc cái hầm là nơi ẩn nấp, nơi ở, nơi làm việc.
Mỗi cái hầm là một ngôi nhà thu nhỏ được xây dựng dưới mặt đất. Hầu hết nhân dân Vĩnh Linh đã dỡ nhà để làm hầm. Mỗi gia đình không chỉ có một hầm mà là cả một hệ thống liên hoàn. Từ ngoài giao thông hào bước vào gian hầm đầu tiên coi như phòng khách. Gian hầm này rộng từ 4 đến 6m2, cao 2m. Trong hầm có bàn ghế cho con ngồi học, có chiếu trải cho khách ngồi, có dán tranh ảnh, có loa truyền thanh. Vách hầm ken ván, nóc hầm lát gỗ cột tròn sát nhau. Bên trên đổ đất dày hàng thước, nện chặt. Tiếp hầm khách là hầm ngủ, đào sâu hơn, xây theo lối chữ A, nhỏ hơn nhưng kiên cố hơn. Bên cạnh đó là hầm nhà bếp, hầm nhà tắm, hầm nhà vệ sinh, hầm gà lợn, trâu bò...
Ban đầu, mỗi cái hầm là một nơi ẩn nấp khép kín, dần dần nó mở ra nối liền với hệ thống hầm hào trong toàn khu vực. Người dân có thể đi khắp 11 xã đồng bằng Vĩnh Linh mà không nhô đầu lên khỏi mặt đất. Một hệ thống giao thông hào sâu từ 1m50 đến 1m70, rộng trung bình 1m, nối liền nhà này sang nhà khác, đội này sang đội khác, xã này sang xã khác, rồi từ nhà ra ruộng, từ ruộng lên nương.
Cả khu vực Vĩnh Linh là cả một hệ thống hầm hào chằng chịt, dày đặc nối liền với nhau. Từ năm 1965 đến 1968, Vĩnh Linh đào được 91.840 chiếc hầm và 2.098km đường hào. Đây không chỉ là nơi ẩn nấp, tránh bom địch mà còn là nơi xuất kích đánh bộ binh địch.
Sự kỳ diệu của bàn tay và khối óc người dân Vĩnh Linh đó đã làm nên một hệ thống liên hoàn giữa Hầm - Hào - Địa đạo, tạo thành một lá chắn thép vững chắc không có gì xuyên thủng được.

Tôi từng tự hỏi:
Ngày ấy, giữa bom đạn, những người dân và người lính Vĩnh Linh đã đào những đường hầm ấy bằng cách nào?
Không có máy móc hiện đại.
Không có những phương tiện thi công như ngày hôm nay.
Chỉ có cuốc, xẻng, đôi bàn tay, sức người và một ý chí không khuất phục.
Đất Vĩnh Linh có nơi cứng, có nơi pha cát, có nơi lẫn đá. Nhưng từng nhát cuốc vẫn được bổ xuống. Từng gầu đất được đưa lên. Từng mét địa đạo, từng đoạn giao thông hào được hình thành.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Mỗi mét đất đào xuống là một phần của sự sống được giữ lại.
Địa đạo không chỉ là những đường hầm nằm sâu trong lòng đất.
Đó là nơi người dân tránh bom.
Là nơi cán bộ, chiến sĩ làm việc.
Là nơi sự sống được tiếp nối giữa những trận bom.
Là biểu tượng cho cách mà con người Vĩnh Linh biến lòng đất thành một “pháo đài”, biến gian khổ thành sức mạnh để tồn tại và chiến đấu.
Tôi được Cha tôi kể lại với giọng đầy xúc động rưng rưng nước mắt khi kể về ông tôi làm tôi nhớ mãi khi Ông tham gia dân quân du kích bắt được phi công nhảy dù ở khu vực Trạng Cù trong đó có ông Trần Văn Bốn, ông Lành, ông Trần Văn Sót áp giải giam ở địa đạo Nam Hùng( vùng Xóm Kho giáp với thôn Nam Cường)
Và ông tôi đã góp một phần sức lực của mình trong những ngày tháng ấy.
Tôi thường nghĩ, có lẽ đôi bàn tay của ông ngày ấy đã chai sần bởi đất đá. Có thể trên những ngón tay từng có những vết thương mà ông chẳng bao giờ kể. Có thể mỗi đường hào, mỗi mét địa đạo mà ông đào xuống đều gắn với một ngày bom đạn, một đêm không ngủ, một lần chứng kiến đồng đội và bà con vượt qua hiểm nguy.
Nhưng ông chưa bao giờ xem đó là điều đặc biệt.
Với ông, đó đơn giản là việc phải làm cho quê hương, cho đất nước.
TẤM HUÂN CHƯƠNG VÀ CÂU CHUYỆN CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI
Trải qua bao năm tháng và sự khắc nghiệt của thời tiết Trong gia đình tôi chỉ lưu giữ lại được một vài kỷ vật mà mỗi lần nhìn vào, tôi lại thấy lịch sử như gần hơn với mình.

Đó là tấm Huân chương Kháng chiến hạng Ba được Nhà nước trao tặng cho ông.
Trên tấm bằng khen cũ đã nhuốm màu thời gian có ghi:
“Ông Trần Văn Bích
Xã Vĩnh Nam, huyện Bến Hải, tỉnh Bình Trị Thiên
Đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.”
Tờ giấy đã cũ.
Màu mực đã nhạt.
Những nếp gấp, vết rách và dấu thời gian vẫn còn đó.
Nhưng đối với gia đình tôi, đó không chỉ là một tấm bằng khen.
Đó là một phần ký ức của ông.
Là lời nhắc rằng, trước khi thế hệ chúng tôi được sinh ra trong hòa bình, đã có một thế hệ phải sống giữa bom đạn để giành lấy hòa bình ấy.
Bên cạnh tấm Huân chương, gia đình còn lưu giữ những chiếc huy chương, huân huy chương và kỷ vật gắn với những năm tháng ông cống hiến.

Mỗi lần nhìn những kỷ vật ấy, tôi lại nghĩ đến một điều rất giản dị:
Lịch sử không chỉ nằm trong những cuốn sách.
Lịch sử còn nằm trong những tờ giấy đã ngả màu.
Nằm trong những chiếc huy chương đã cũ.
Nằm trong những vết chai trên bàn tay của người ông.
Và nằm trong ký ức của những gia đình đã từng đi qua chiến tranh.
VĨNH LINH – MẢNH ĐẤT KHÔNG KHUẤT PHỤC
Vĩnh Linh trong những năm tháng chiến tranh là một địa danh đặc biệt.
Đây là nơi bom đạn từng đánh phá ác liệt, nhưng cũng là nơi thể hiện sức sống, ý chí và tinh thần kiên cường của nhân dân.
Những địa danh như Vĩnh Nam, Nam Phú, Nam Hùng... hôm nay có thể đã bình yên. Những con đường đã rộng hơn, những ngôi nhà đã khang trang hơn, cuộc sống của người dân đã đổi thay.
Nhưng dưới lòng đất của quê hương vẫn còn đó những dấu tích của một thời.
Và trong ký ức của những người từng sống qua chiến tranh, những năm tháng ấy chưa bao giờ mất đi.
Ông tôi là một người bình thường trong hàng vạn người bình thường đã làm nên những điều phi thường.
Ông không phải là một vị tướng.
Không phải là một nhân vật được nhắc nhiều trong sách báo.
Ông chỉ là một người dân Vĩnh Linh đã làm phần việc của mình khi Tổ quốc cần.
Nhưng chính những con người như ông đã tạo nên sức mạnh của một dân tộc.
TỪ CÂU CHUYỆN CỦA ÔNG ĐẾN TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ
Bây giờ, khi đã trưởng thành, tôi mới hiểu rằng điều quý giá nhất ông để lại cho con cháu không chỉ là những tấm Huân chương.
Đó còn là một bài học về lòng yêu nước.
Một bài học về sự hy sinh thầm lặng.
Và một bài học về trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, đất nước.
Thế hệ chúng tôi may mắn được sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa.
Chúng tôi không phải sống dưới những trận bom.
Không phải đào địa đạo để tìm nơi trú ẩn.
Không phải cầm cuốc, cầm xẻng giữa những ngày tháng mà mỗi tiếng máy bay có thể báo hiệu một trận oanh kích.
Nhưng chính vì được sống trong hòa bình, chúng tôi càng phải biết trân trọng hòa bình.
Nếu thế hệ của ông tôi đã dùng đôi bàn tay để đào những con đường dưới lòng đất, thì thế hệ trẻ hôm nay phải dùng tri thức, sức trẻ và trách nhiệm để xây dựng những con đường đi lên cho quê hương.
Tôi nghĩ đó chính là cách thiết thực nhất để thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước.
“ÔNG ƠI, CHÚNG CHÁU VẪN NHỚ...”
Ông tôi đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc đời.
Những con đường hào, những địa đạo mà ông từng góp sức đào năm xưa có thể đã bị thời gian phủ lên nhiều lớp đất.
Nhưng câu chuyện về ông thì vẫn còn.
Nó được truyền từ ông đến cha mẹ tôi, rồi đến chúng tôi.
Và hôm nay, tôi muốn kể lại câu chuyện ấy cho nhiều người hơn, đặc biệt là những bạn trẻ.
Tôi muốn các bạn biết rằng:
Có một thế hệ đã từng đào đất bằng đôi bàn tay để giữ lấy sự sống.
Có những con người đã từng đứng giữa bom đạn nhưng không rời quê hương.
Có những người đã cống hiến cả tuổi trẻ mà không đòi hỏi mình phải được nhớ tên.
Ông tôi là một trong những con người như thế.
Nhìn tấm Huân chương Kháng chiến đã nhuốm màu thời gian, tôi không chỉ nhìn thấy một phần thưởng.
Tôi nhìn thấy tuổi trẻ của ông.
Nhìn thấy Vĩnh Linh của những năm tháng “hoa lửa”.
Nhìn thấy những người dân quê tôi đã sống, chiến đấu và hy sinh như thế nào để hôm nay chúng tôi được sống trong hòa bình.
Và tôi tự nhủ:
Chúng tôi sẽ không để những câu chuyện ấy bị lãng quên.
Bởi khi một người trẻ nhớ về lịch sử của gia đình mình, đó không chỉ là sự tri ân đối với ông cha.
Đó còn là cách để ngọn lửa của một thế hệ tiếp tục được truyền sang thế hệ khác.
Ông đã góp sức đào những con đường trong lòng đất Vĩnh Linh năm xưa.
Còn thế hệ chúng tôi hôm nay sẽ tiếp tục đi trên những con đường hòa bình mà ông và cả thế hệ của ông đã đánh đổi bằng tuổi trẻ, mồ hôi và máu xương.
Ông ơi, những đường hầm năm ấy có thể đã nằm lại dưới lòng đất.
Nhưng con đường mà ông và đồng đội đã mở ra cho quê hương thì vẫn còn mãi.
Và chúng cháu – thế hệ được sinh ra từ hòa bình – sẽ luôn nhớ.
Nhớ một người ông.
Nhớ một thế hệ.
Nhớ một Vĩnh Linh kiên cường.
Và nhớ rằng: hòa bình hôm nay chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.
Tháng 8 năm 2026



