Ông nội-Vũ Ngọc Thân-Thanh niên xung phong (2/2/1956-11/5/2025)
Trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc, có những trang sử được viết bằng mồ hôi, sức trẻ và ý chí sắt đá của những người con sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, gác lại hạnh phúc cá nhân để phụng sự Tổ quốc. Giữa nhịp sống bình yên hôm nay, tôi may mắn được lắng nghe những câu chuyện từ chính người ông của mình-một cựu thanh niên xung phong, người đã từng vượt qua gian lao nơi tiền tuyến, dẫu tuổi xuân gắn liền với gian khó, nhưng trái tim vẫn luôn nồng cháy lý tưởng. Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” như một lời kêu gọi tha thiết, thôi thúc thế hệ trẻ chúng tôi tìm về quá khứ, lắng nghe và gìn giữ những kí ức quý báu ấy, để hiểu rõ hơn về những hy sinh thầm lặng đã làm nên đất nước ta ngày hôm nay. Ông nội tôi với bao kỷ niệm còn vẹn nguyên, chính là một nhân chứng sống động , là kho báu quý giá mà tôi muốn khám phá và lan tỏa.
Nội tôi, tên thật là Vũ Ngọc Thân, sinh ra và lớn lên tại xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên. Năm 18 tuổi, khi đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, ông đã không ngần ngại, tình nguyện lên đường nhập ngũ, khoác lên mình màu áo xanh của lực lượng Thanh niên xung phong. Ông được phân công nhiệm vụ tại một tuyến đường huyết mạch, nơi ngày đêm đối mặt với sự bắn phá của quân địch. Hằng ngày, ông cùng các đồng đội phải san lấp hố bom, sửa chữa cầu đường, đảm bảo mạch máu giao thông thông suất cho tiền tuyến.
Tôi nhớ nhất câu chuyện ông kể về một lần đơn vị ông nhận nhiệm vụ vận chuyển thương binh vượt sông. Nội nói: “Đêm hôm đó, trời mưa to lắm, nước sông dâng cao chảy xiết. Dưới làn bom đạn của địch, nội và các đồng đội đã dũng cảm chèo chống con thuyền độc mộc nhỏ bé,đưa tùng đoàn thương binh vào bờ an toàn. Có những lúc,con thuyền chao đảo dữ dội, tưởng chừng như sắp lật úp, nhưng chỉ cần nhìn thấy ánh mắt mong chờ của những người lính bị thương, nội lại càng thêm vững tâm...”. Trầm tư một lúc, nội kể tiếp: “Có đồng đội của nội cũng đã hy sinh vào đêm đó, nhưng những thương binh được cứu sống đã trở thành động lực to lớn để nội tiếp tục chiến đấu, cháu à !”. Lúc ấy, đôi mắt ông tràn đầy kiêu hãnh và tự hào về một thời anh dũng, nhưng tôi nhận ra được rằng, ẩn sâu bên trong đôi mắt đó là một nỗi buồn man mát, một sự đau lòng khó tả và một nỗi tiếc thương với người đồng đội đã khuất.
Không chỉ tham gia chiến đấu, ông còn kể về những ngày tháng xây dựng các công trình phục vụ chiến tranh. Đó là những con đường mới được mở giữa rừng sâu hiểm trở, những cây cầu vững chãi được dựng lên bắc qua sông dữ, hay những hầm hào kiên cố được đào đắp bằng chính sức người và ý chí sắt đá. Nội nói: “Tuy gian khổ là thế, thiếu thốn đủ bề là thế, nhưng tình đồng đội, tình quân dân ấy đã sưởi ấm những trái tim tuổi trẻ, giúp nội vượt qua tất cả...”.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê hương, mang theo những vết thương lòng và cả những bài học quý giá từ chiến trường. Ông không kể nhiều về những gian lao, mất mát, mà chỉ lặng lẽ cống hiến sức mình trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông tham gia công tác địa phương, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Những câu chuyện của ông không chỉ là hồi ức về một thời “hoa lửa” mà còn là bài học sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, cống hiến và tình đồng đội keo sơn. Tôi tin rằng, những câu chuyện này, khi được lan tỏa qua đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” sẽ tiếp tục thắp lên ngọn lửa truyền thống, khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



