Ông Phạm Xuân Thục và những kỷ niệm khó quyên
Nhân chứng lịch sử

Chúng tôi có mặt tại nhà CCB Phạm Xuân Thục, ở Bản Din, xã Việt Hồng, tỉnh Lào Cai cùng nhau trò chuyện. Bên tách trà nóng, cùng những câu chuyện, kỷ vật chiến trường xưa, những câu chuyện cứ thế ùa về.
Tháng 8/1972, khi vừa tròn 20 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thanh niên Phạm Xuân Thục đã cùng với nhiều thanh niên của quê hương Việt Hồng hăng hái lên đường nhập ngũ, đem trí tuệ và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ cống hiến cho cách mạng.
Sau khi nhập ngũ, ông được huấn luyện 03 tháng ở Quân khu Việt Bắc. Ông được biên chế vào Tiểu đoàn 4 trung đoàn 246.
Ngày 25/11/1972 đơn vị được lệnh vào Nam chiến đấu ở C1D1 E28F10 Quân đoàn 3 Tây Nguyên.
Ông Thục nhớ lại: Năm 1972 là một năm bản lề trong Chiến tranh Việt Nam với Cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy Xuân-Hè 1972 của Quân Giải phóng, đánh dấu sự phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đặc biệt với chiến dịch lớn tại Quảng Trị (Mùa hè đỏ lửa), buộc Mỹ phải "Mỹ hóa" trở lại chiến tranh và đẩy nhanh đàm phán Hiệp định Paris, dẫn đến hòa bình năm 1973. Miền Bắc cũng đẩy lùi chiến tranh phá hoại lần 2, với đỉnh điểm là trận "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm, củng cố thế và lực cho cách mạng Việt Nam.
Bộ đội và nhân dân ở đây vô cùng khó khăn, vất vả. Bản thân ông cùng đồng đội mùa khô thì chiến đấu với quân địch mùa mưa thì tập luyện mỗi đồng chí một ngày lấy 70kg củi, trồng cad dừa, và trồng sắn, chế độ ăn hàng ngày chỉ có 80g gạo trong 3 bữa ăn độn với sắn và cà.
Trong cuộc kháng chiến ông bị thương rất nặng ở vùng thắt lưng nhưng ông tình nguyện ở lại vừa chữa vết thương vừa chiến đấu vô cùng gian khổ cho đến ngày 25/12/1976 ông ra quân.
Ông Thục cho biết thêm: Mỗi lần nhớ lại những ngày tháng ở cùng đồng đội và nhân dân ông lại rơi nước mắt khi trở về quê hương, ông tiếp tục tham gia Hội Cựu chiến binh và cống hiến cho xã hội. Ông là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, dũng cảm và ý chí kiên cường, truyền cảm hứng cho các thế hệ sau.
Dù những năm tháng đã đi qua kể từ chiến thắng, những người lính như ông Thục trở về quê hương tiếp tục phát huy tinh thần “thép” của người lính Cụ Hồ trong phát triển kinh tế gia đình, tích cực tham gia công tác xã hội ở địa phương và không quên kể về quá khứ hào hùng cho con cháu nghe.
Ông thục nói những năm tháng qua mãi là hồi ức không thể nào quên, là niềm tự hào không chỉ của thế hệ những người cầm súng chiến đấu, mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam



