Ông Phan Công Thí - Đêm sân bay Buôn Ma Thuột cháy sáng
Lời kể/ký ức của Đại tá Phan Công Thí, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công thuộc Tỉnh đội Đắk Lắk, về trận tập kích sân bay quân sự Buôn Ma Thuột rạng sáng 4/1/1968, trận đánh mở màn ghi dấu lực lượng đặc công Đắk Lắk.
Năm nào cũng vậy, cứ chiều ba mươi Tết, Đại tá Phan Công Thí lại cùng vợ đi dạo chợ hoa xuân trên trục đường Trường Chinh của thành phố Buôn Ma Thuột. Người đi chợ hoa hôm nay chỉ thấy một con đường rực rỡ sắc mai, sắc cúc, tiếng người mua bán rộn ràng, không khí Tết ấm áp và bình yên. Nhưng với ông Thí, mỗi lần bước trên con đường ấy, ký ức lại đưa ông trở về một đêm rất khác: đêm sân bay quân sự Buôn Ma Thuột cháy sáng trong tiếng nổ của đặc công Đắk Lắk.
Trước ngày giải phóng, khu vực chợ hoa ấy từng là đường băng sân bay quân sự của địch. Đó là một mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột, nơi địch tập trung máy bay, phương tiện chiến tranh, trận địa pháo, nhà lính, kho tàng và hệ thống bảo vệ chặt chẽ. Với người dân hôm nay, nơi ấy là phố xá. Với ông Thí và đồng đội, nơi ấy từng là một hậu cứ quân sự đầy hiểm nguy, từng đêm có xe tuần tra, có lính gác, có ánh đèn pha quét qua những khoảng đất trống.
Ngày 7 tháng 11 năm 1967, Tiểu đoàn Đặc công thuộc Tỉnh đội Đắk Lắk được thành lập. Đồng chí Trần Kim Chung làm Tiểu đoàn trưởng, Phan Công Thí làm Chính trị viên, đồng chí Trương Trừ làm Tham mưu trưởng. Ngay sau ngày thành lập, đơn vị nhận một nhiệm vụ rất nặng: chuẩn bị tập kích sân bay quân sự Buôn Ma Thuột và nhà tỉnh trưởng Đắk Lắk. Đây không chỉ là một trận đánh để tiêu hao sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, mà còn là trận “ra mắt” của lực lượng đặc công Đắk Lắk, phối hợp với chiến trường trong không khí chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Khi nhớ lại trận đánh ấy, điều đầu tiên hiện lên không phải là phút nổ súng, mà là những ngày trinh sát, chuẩn bị và cân nhắc phương án. Sân bay quân sự Buôn Ma Thuột rất rộng, nằm giữa khu vực địch kiểm soát chặt. Muốn tiếp cận mục tiêu, bộ đội phải vượt qua nhiều địa hình trống trải, đồi núi, suối nước, nương rẫy, buôn làng, cụm dân cư và các cơ quan ngụy quyền. Địch thường xuyên tuần tra, phục kích, kiểm soát đường ra vào. Chỉ cần một dấu vết lạ, một tiếng động bất thường, một ánh lửa lộ ra trong đêm, cả đội hình có thể bị phát hiện trước khi vào được mục tiêu.
Nhưng cũng chính trong khó khăn ấy, Ban chỉ huy Tiểu đoàn nhận ra thời cơ. Sân bay rộng nên việc kiểm soát ban đêm của địch không thể kín hết. Trước đó, sân bay thường chỉ bị pháo kích từ xa, chưa từng bị ta dùng lực lượng xung kích đánh sâu vào bên trong, nên địch có phần chủ quan. Nếu bí mật tiếp cận được, nếu đột kích nhanh, mạnh, đúng thời điểm, ta có thể khiến chúng bất ngờ, không kịp trở tay.
Đại đội 310 được chọn làm lực lượng đánh sân bay. Đây là đơn vị có kinh nghiệm chiến đấu độc lập trên chiến trường Tây Nguyên. Đại đội do Ban chỉ huy Tiểu đoàn chỉ huy chung, đồng chí Nguyễn Xuân Hứa làm Đại đội trưởng, đồng chí Trần Cam làm Chính trị viên. Đơn vị được tăng cường hai khẩu cối 82 mm, chia thành nhiều tổ, bí mật luồn sâu, đánh vào các khu vực trọng yếu trong sân bay.
Sáng sớm ngày 3 tháng 1 năm 1968, từ khu căn cứ phía nam thị xã, Đại đội 310 nhận lệnh hành quân. Đó là cuộc hành quân mà mỗi bước chân đều phải nén lại. Ban ngày phải giấu quân, giữ bí mật. Đêm xuống mới lặng lẽ áp sát mục tiêu. Người lính đặc công mang trên người vũ khí, bộc phá, lựu đạn, nhưng nặng hơn cả là yêu cầu phải tuyệt đối im lặng. Không được ho. Không được nói to. Không được để kim loại va vào nhau. Không được để lộ dấu vết trên đường tiếp cận.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, các tổ bí mật tiếp cận sân bay. Trước mắt họ là hàng rào, vật cản, lô cốt, nhà lính, khu để máy bay, trận địa pháo, đường băng và những toán tuần tra của địch. Thỉnh thoảng một chiếc xe bọc thép hoặc xe Jeep chạy qua. Ánh đèn và tiếng động cơ lướt qua rất gần. Các chiến sĩ phải nằm im, nín thở, chờ xe đi khuất rồi mới tiếp tục bò, cắt rào, mở cửa, khắc phục vật cản. Mỗi người đều hiểu rằng nếu bị phát hiện lúc này, trận đánh có thể thất bại, đồng đội có thể hy sinh ngay trước giờ nổ súng.
Đúng 0 giờ 5 phút ngày 4 tháng 1 năm 1968, pháo hiệu vang lên. Hai khẩu cối 82 mm bắn chế áp vào trận địa pháo của địch và phía tây bắc sân bay. Lợi dụng hỏa lực yểm trợ, các tổ đặc công đồng loạt thọc sâu. Trong khoảnh khắc ấy, bóng đêm của sân bay bị xé toạc bởi tiếng nổ, ánh lửa và những mũi tiến công rất nhanh của bộ đội ta.
Tổ 1 do Trung đội trưởng Phạm Quang Trù chỉ huy đánh vào dãy nhà bên trái, tiêu diệt lô cốt cạnh cửa mở, rồi phát triển vào dãy nhà lính không quân và khu vực nhà chỉ huy. Tổ 2 do Trung đội trưởng Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy phát triển sang hướng khác, đánh các dãy nhà, lô cốt cổng chính, nhà lính không quân và nhà chỉ huy. Tổ 3 do Trung đội phó Dư Ngọc Thuyền chỉ huy thọc sâu vào khu vực để máy bay. Tổ 4 dùng B40 kiềm chế hỏa lực địch ở khu vực cửa mở. Tổ 5 làm lực lượng dự bị, giữ cửa mở cho đơn vị rút ra khi hoàn thành nhiệm vụ.
Tất cả diễn ra trong thời gian rất ngắn. Địch bị bất ngờ, hoàn toàn bị động. Những nơi vừa yên ắng vài phút trước bỗng chìm trong khói lửa. Nhà lính, khu để máy bay, trận địa pháo, kho tàng rung lên bởi tiếng nổ. Từ ngoài nhìn vào, sân bay Buôn Ma Thuột cháy sáng rực một góc trời thị xã. Với người dân trong vùng, đó có thể là một đêm kinh hoàng vì tiếng súng quá lớn. Với người lính đặc công, đó là giây phút bao ngày trinh sát, chuẩn bị, bí mật hành quân đã chuyển thành hành động quyết định.
Sau khoảng 30 phút chiến đấu, đơn vị ta làm chủ trận đánh. Nhiều sinh lực địch bị tiêu diệt, nhiều máy bay, xe vận tải, nhà lính, kho tàng và trận địa pháo bị phá hủy hoặc hư hại nặng. Sân bay quân sự Buôn Ma Thuột bị tê liệt. Điều đặc biệt là sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các tổ đặc công lợi dụng lúc địch hỗn loạn, bí mật vượt qua Đường 14, rút về khu tập kết an toàn.
Cùng đêm ấy, một mũi khác của Tiểu đoàn do Đại đội 308 đảm nhiệm cũng bí mật đột nhập, tấn công nhà tỉnh trưởng Đắk Lắk. Tên tỉnh trưởng kịp chạy xuống đường hầm, nên lực lượng đặc công chỉ tiêu diệt được lính canh rồi rút lui khi địch đưa quân đến ứng cứu. Dù không đạt trọn mục tiêu như mong muốn, mũi đánh này vẫn góp phần làm địch rối loạn, tạo thế phối hợp với trận đánh sân bay.
Với Đại tá Phan Công Thí, trận sân bay quân sự Buôn Ma Thuột là một dấu mốc đặc biệt. Đó là trận đánh mở màn của Tiểu đoàn Đặc công Đắk Lắk, lần đầu tiên lực lượng vũ trang tỉnh sử dụng xung lực đánh sâu vào hậu cứ địch có công sự phòng thủ, tuần tra và hệ thống bảo vệ nghiêm ngặt. Trận đánh không chỉ gây thiệt hại về phương tiện chiến tranh của địch, mà còn tạo tác động mạnh về tinh thần: địch nhận ra ngay cả hậu cứ tưởng là an toàn cũng có thể bị đặc công ta đánh thẳng vào; còn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân càng thêm tin vào khả năng đánh địch ngay trong lòng thị xã.
Nhiều năm sau, khi đứng giữa chợ hoa xuân trên con đường Trường Chinh, ông Thí nhìn thấy hai lớp thời gian chồng lên nhau. Trước mắt là hoa Tết, là phố phường, là những gia đình thong thả đi mua cây cảnh. Trong ký ức là đường băng sân bay, là đêm 4 tháng 1, là ánh lửa cháy rực, là những chiến sĩ đặc công âm thầm bò qua hàng rào, là tiếng pháo hiệu lúc 0 giờ 5 phút, là cảm giác căng như dây đàn trước giờ nổ súng.
Điều làm ký ức ấy sâu hơn chính là sự đối lập giữa chiến tranh và hòa bình. Nơi từng là mục tiêu quân sự nay trở thành nơi người dân vui xuân. Nơi từng có máy bay, lô cốt, lính gác, hàng rào, nay có hoa, tiếng cười và ánh đèn thành phố. Mỗi bước chân đi giữa chợ hoa như nhắc người cựu chiến binh rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được đổi bằng những đêm hành quân bí mật, bằng sự gan dạ của người lính đặc công, bằng cả máu xương của biết bao đồng đội trên vùng đất Đắk Lắk.
Câu chuyện của Đại tá Phan Công Thí vì thế không chỉ là câu chuyện về một trận tập kích sân bay. Đó là câu chuyện về bản lĩnh của lực lượng đặc công Đắk Lắk trong những ngày đầu thành lập; về sự táo bạo khi đánh sâu vào hậu cứ địch; về trí tuệ trong trinh sát, hiệp đồng; về lòng dũng cảm của những người lính đi vào mục tiêu gần như trong im lặng tuyệt đối.
Và cũng là câu chuyện về cách ký ức chiến tranh sống trong đời thường. Một con đường hôm nay có thể là chợ hoa. Một góc phố hôm nay có thể là nơi người dân chụp ảnh Tết. Nhưng trong lòng người từng đi qua thời hoa lửa, nơi ấy vẫn còn âm vang của một đêm lịch sử: đêm sân bay Buôn Ma Thuột cháy sáng, mở đầu cho những chiến công của đặc công Đắk Lắk và góp phần vào mạch đấu tranh bền bỉ của quân dân Tây Nguyên cho đến ngày toàn thắng
Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Quân đội nhân dân/Sự kiện và Nhân chứng: Đại tá Phan Công Thí là nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk; ngày 7/11/1967, Tiểu đoàn Đặc công thuộc Tỉnh đội Đắk Lắk được thành lập với đồng chí Trần Kim Chung là Tiểu đoàn trưởng, Phan Công Thí là Chính trị viên, Trương Trừ là Tham mưu trưởng; đơn vị được giao chuẩn bị tập kích sân bay quân sự Buôn Ma Thuột và nhà tỉnh trưởng Đắk Lắk.
Diễn biến trận đánh sân bay cũng dựa trên nguồn QĐND: sáng 3/1/1968, Đại đội 310 hành quân từ căn cứ phía nam thị xã; 20 giờ bí mật tiếp cận mục tiêu; đúng 0 giờ 5 phút ngày 4/1, sau pháo hiệu, các tổ đặc công thọc sâu đánh các khu nhà, lô cốt, khu để máy bay; sau khoảng 30 phút, ta làm chủ trận đánh, phá hủy nhiều phương tiện, làm sân bay Buôn Ma Thuột bị tê liệt và rút về an toàn.
Báo Đắk Lắk xác nhận ông Phan Công Thí, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Tỉnh đội Đắk Lắk, là một trong các nhân chứng tham gia tọa đàm kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột; tại tọa đàm, các nhân chứng kể lại hồi ức về trận đánh Buôn Ma Thuột và gửi gắm bài học truyền thống cho thế hệ trẻ.


