Ông Thạc
Ông Thạc, sinh viên năm thứ nhất khoa Toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội, kể rằng vào tháng 9 năm 1971, ông đã rời mái trường đại học, rời xa những công thức toán học khô khan nhưng đầy mê hoặc để khoác lên mình màu áo xanh chiến sĩ.
Ông Thạc, sinh viên năm thứ nhất khoa Toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội, kể rằng vào tháng 9 năm 1971, ông đã rời mái trường đại học, rời xa những công thức toán học khô khan nhưng đầy mê hoặc để khoác lên mình màu áo xanh chiến sĩ.
Ông nhớ như in đêm cuối cùng ở hậu phương trước khi vào vùng lửa đạn. Đêm ấy, ông ngồi bên cửa sổ, nhìn ánh trăng soi bóng xuống mặt hồ và tự hỏi chiến tranh là gì mà khiến những chàng trai tuổi mười tám đôi mươi phải tạm biệt người yêu, tạm biệt trang sách. Nhưng rồi câu trả lời đến rất nhanh khi ông nhìn thấy đoàn quân trùng điệp tiến về phía Nam. Đó chính là tình yêu Tổ quốc, một thứ tình cảm lớn lao có thể át đi mọi nỗi sợ hãi cá nhân.
Ngày 19 tháng 5 năm 1972, đơn vị của ông hành quân vào đến đất Quảng Trị. Ông kể rằng cảnh tượng lúc ấy vô cùng khốc liệt. Bầu trời không còn màu xanh mà chỉ có màu xám xịt của khói bom và màu đỏ rực của lửa. Đất đá dưới chân nóng hổi, tơi xốp vì đại bác. Đơn vị của ông đóng quân bên bờ Sông Thạch Hãn – dòng sông mà sau này máu của nhiều chiến sĩ đã hòa vào làn nước.
Ông còn nhớ có lần, giữa hai trận đánh, ông ngồi trong hầm chữ A, lấy cuốn sổ tay nhỏ ra ghi vội vài dòng gửi cho Như Anh – người con gái ông yêu. Ông viết rằng ở nơi chiến trường không có hoa hồng, chỉ có “hoa lửa”, nhưng ông vẫn tin rằng sau chiến tranh họ sẽ lại được nắm tay nhau đi dưới những hàng sấu ở Hà Nội.
Dù cái chết luôn cận kề, ông và những đồng đội vẫn lạc quan. Họ chia nhau từng điếu thuốc lào cháy dở, kể cho nhau nghe về những ước mơ sau này. Có người muốn trở về làm thợ máy, có người muốn về quê cày ruộng, còn ông chỉ mong một ngày được trở lại giảng đường để tiếp tục giải những bài toán còn dang dở.
Ông kể rằng chiến tranh rất khốc liệt. Nhiều đồng đội của ông đã nằm lại trên chiến trường, hiến dâng tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Những ký ức ấy, theo ông, vừa đau thương vừa thiêng liêng, là một phần không thể quên của thời hoa lửa.
Nghe ông kể, tôi càng hiểu hơn về sự hy sinh của thế hệ cha anh. Chính nhờ những con người như họ mà hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình và yên bình dưới bầu trời xanh của quê hương



