“Ông Tiên” giữa đời thường
“Ông Tiên” giữa đời thường
Ông Đặng Đình Thuận sinh ngày 28/04/1951-một cựu chiến binh. Ông là người cùng xóm với em ở tổ dân phố Ngô Thượng, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Vào những ngày nghỉ, chúng em thường sang nhà ông chơi và vòi vĩnh ông kể lại những trận chiến đấu của ông thời xưa. Với ánh mắt hiền hậu và đôi bàn tay nhiều vết chai năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi nhưng dáng đi còn rất nhanh nhẹn, tác phong hoạt bát. Ngồi dưới bóng mát của vườn cây ăn quả, ông kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm khó phai về cuộc đời quân ngũ, về niềm tự hào được cống hiến tuổi xuân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam ta. Em ấn tượng nhất là khi ông kể về những trận đánh ở chiến trường Quảng trị. Ông kể: “ Tháng 8/1971 bộ chính trị ra quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng Đông Nam bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên, trong đó Trị Thiên là hướng chiến lược quan trọng nhất nhằm tiêu diệt quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện ở chiến trường miền Nam. Nhằm tăng cường hỏa lực, hiệp đồng tác chiến với bộ binh chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Quảng Trị, đơn vị của ông Thuận được lệnh lên đường vào Nam. Thời điểm đó ông thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 10, trung đoàn hỏa lực 68, sư đoàn 304. Đơn vị của ông được lệnh chuyển các pháo tầm xa như Canon 122mm, pháo cối 160mm và pháo phản lực H12 vào chiến trường. Công việc vận chuyển vũ khí cũng quan trọng không kém gì chiến đấu: vô cùng gian nan, vất vả và chịu nhiều tổn thất. Đến cuối tháng 7/1972, mọi công việc chuẩn bị cho trận chiến như vận chuyển vũ khí đạn dược, hàng hóa hậu cần đã cơ bản hoàn thành. Từ tháng 3/1972, chiến dịch giải phóng Quảng Trị bắt đầu. Các trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Địch quyết tâm tử thủ bảo vệ quản trị nhằm giữ thế thượng phong trên bàn đàm phán ở hội nghị Paris. Ông tham gia đầy đủ các trận đánh và chiến đấu bên đồng đội từ đài quan sát cho đến khi bị thương.”. Ông nhấp một ngụm nước lọc rồi tiếp tục kể: “Trận đánh khốc liệt kéo dài nhiều ngày vào căn cứ Ái Tử, La Vang - nơi địch tập trung đóng quân - gồm bộ binh, biệt động, lính thủy đánh bộ, không quân và pháo binh. Có những thời điểm, bộ binh của ta và địch đánh giáp lá cà, xe tăng hai bên quần đảo nhau nhiều giờ. Khi đó, lằn ranh giữa sự sống và cái chết vô cùng mỏng manh. Trong một trận đánh lớn, một quả pháo đạn 105 ly của địch nổ cách cửa hầm của các ông chừng hơn một mét khiến ông bị nhiều mảnh đạn găm vào người. Hai đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh –nhớ đồng đội – mắt ông rớm lệ, chúng em cũng thấy rưng rưng. Trận đánh này ta thu được nhiều chiến lợi phẩm. Trong đó có pháo 105mm của Mỹ với độ chính xác cao, uy lực mạnh được cấp trên cho phép sử dụng vũ khí của địch. Bộ đội ta học xạ kích, kỹ thuật bắn trong thời gian ngắn. Các ông, ai cũng vui vì được dùng vũ khí của địch để đánh lại địch.” Chúng em nghe chăm chú như nuốt từng lời: “Trận đánh vào căn cứ Tân Lâm ngày 2/4 để lại trong ông kỷ niệm sâu sắc và đáng nhớ nhất. Từ cao điểm 241, hỏa lực của ta liên tục nã vào sở chỉ huy trung đoàn 56 của Ngụy khiến chúng khiếp đảm không còn tinh thần chiến đấu. Cố vấn Mỹ phải tháo chạy, còn binh lính ngụy dưới quyền của trung tá trung đoàn trưởng Phạm Văn Đính và thiếu tá trung đoàn phó Vĩnh Phong phải ra hàng. Do bị ta đánh bất ngờ tuyến phòng thủ vòng ngoài bị phá vỡ. Vì thế, trong năm ngày liền địch ồ ạt tăng quân để chi viện. Chiến sự diễn ra giằng co quyết liệt. Bộ đội ta đã dũng cảm chiến đấu, đẩy lùi các đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa. Do bị thương, ông được đưa về tuyến sau và sau đó chuyển ra miền Bắc. Tổng cộng ông đã trải qua bốn lần phẫu thuật để gắp các mảnh đạn. Mặc dù vậy, trên cơ thể ông vẫn còn những mảnh đạn li ti gây đau nhức mỗi khi trái gió trở trời. Xuất ngũ năm 1974 với sức khỏe giảm sút 61 phần trăm thương binh hạng 2/4.” Ông kể đến đây tất cả chúng em – không ai bảo ai - đều nhào vào ôm ông với một niềm tự hào. Ông nói với chúng em: “ Ông là người may mắn được trở về. Vì thế ông phải luôn nỗ lực cống hiến cho quê hương, đất nước”. Giờ đây, nhìn người Cựu chiến binh 75 tuổi. Tuy ông không mang quân phục nhưng ông vẫn mang phong độ của người lính. Người lính mang nét phúc hậu như một “ông Tiên”. Chúng em cũng thầm hứa phải không ngừng tu dưỡng để xứng đáng với những hi sinh của ông và những người lính. |



