"ÔNG TỔ" CỦA NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC VÀ HUYỀN THOẠI TRẬN ĐÁNH CẦU BÀ KIÊN NĂM 1948
Trong kho tàng nghệ thuật quân sự độc đáo của Quân đội nhân dân Việt Nam, Binh chủng Đặc công là đỉnh cao của tư duy "Đặc biệt tinh nhuệ, lấy ít địch nhiều, luồn sâu đánh hiểm". Khởi nguồn của lối đánh xuất quỷ nhập thần ấy được kết tinh từ chiến trường miền Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng, gắn liền với tên tuổi của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Công An (tên thật là Trần Văn Kế, bí danh Hai Cà) – người được coi là một trong những bậc khai quốc công thần, "ông tổ" đặt nền móng khai sinh ra cách đánh đặc công của quân đội ta. Từ trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên mở màn năm 1948 đến những chiến công rung chuyển sào huyệt giặc trên chiến trường Rừng Sác và miền Đông, cuộc đời ông là một pho sử sống động về ý chí sáng tạo quân sự phi thường, đức tính khiêm nhường và bản lĩnh kiên cường của người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Giai đoạn 1946 – 1954, sau khi tái chiếm Nam Bộ, tướng Pháp De Latour đã áp dụng chiến thuật xây dựng hệ thống tháp canh dày đặc (chiến thuật De Latour) nhằm phong tỏa, chia cắt chiến trường miền Đông:
Hàng ngàn tháp canh bê tông cốt thép, cao từ 6 đến 10 mét, có lỗ châu mai bốn phía, xung quanh rải nhiều tầng dây thép gai, bãi mìn và hào sâu được dựng lên dọc theo các tuyến đường giao thông huyết mạch, các cây cầu và ven rừng.
Chiến thuật này đã gây muôn vàn khó khăn cho lực lượng kháng chiến non trẻ của ta: liên lạc bị đứt đoạn, các đơn vị bộ đội tập trung không thể cơ động, việc vận chuyển lương thực, vũ khí bị phong tỏa gắt gao. Các đợt dùng lực lượng đông người công đồn trực diện đều chịu thương vong lớn do hỏa lực súng máy từ trên cao của địch quét xuống.
Yêu cầu lịch sử cấp bách đặt ra cho Bộ đội Nam Bộ lúc bấy giờ: Phải tìm ra một cách đánh hoàn toàn mới, một loại vũ khí thích hợp để "mở toang then cài", đập tan hệ thống tháp canh kiên cố của thực dân Pháp mà không cần tiêu tốn nhiều quân số và hỏa lực pháo binh hạng nặng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Người cán bộ công binh dũng cảm, mưu trí Trần Công An đã đứng lên nhận lãnh sứ mệnh lịch sử tìm tòi, thí nghiệm và khai sinh lối đánh táo bạo ấy.
Người thợ rèn kiên trung của đất Biên Hòa
Trần Công An sinh năm 1920 tại làng Bình Hòa (sau đổi thành xã Tân Bình), huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) – vùng đất cửa ngõ Chiến khu Đ giàu truyền thống yêu nước.
Sinh ra trong một gia đình nghèo, sớm bước vào đời mưu sinh bằng nghề thợ rèn và thợ cơ khí, ông tích lũy được đôi bàn tay khéo léo, tính kiên nhẫn và sự am hiểu tường tận về kim khí, thuốc súng:
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, ông hăng hái tham gia tự vệ, cướp chính quyền tại Biên Hòa.
Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Nam Bộ, ông gia nhập Chi đội 10 (Bộ đội Biên Hòa), đem toàn bộ tay nghề cơ khí phục vụ xưởng sản xuất vũ khí kháng chiến của ta trong rừng sâu Chiến khu Đ.
Với tư duy sáng tạo và lòng quả cảm, ông nhanh chóng trở thành người chỉ huy công binh trinh sát dạn dày kinh nghiệm, luôn trăn trở tìm cách khắc chế những khối tháp canh bê tông sừng sững của quân viễn chinh Pháp.
Khai sinh lối đánh đặc công qua trận tháp canh cầu Bà Kiên (19/03/1948)
Trăn trở trước tổn thất của đồng đội trong các trận công kiên vào tháp canh De Latour, Trần Công An đã cùng đồng đội bí mật trinh sát, đo đạc kết cấu của tháp canh cầu Bà Kiên (nằm trên lộ 16, đoạn qua huyện Tân Uyên, nay thuộc tỉnh Bình Dương):
Sáng chế quả nổ phá lô cốt: Bằng kiến thức cơ khí và sự mày mò thí nghiệm, ông chế tạo một loại mìn lõm nhồi thuốc nổ đặc biệt (sau này phát triển thành tiền thân của bộc phá ống và thủ pháo lõm), định hướng luồng sóng nổ thẳng vào chân tường tháp canh để đánh sập kết cấu bê tông mà không cần khối lượng thuốc nổ quá lớn.
Huấn luyện kỹ thuật bò, trườn, tiềm nhập: Ông cùng một nhóm chiến sĩ tinh nhuệ tự luyện tập kỹ thuật cởi trần, bôi bùn đất ngụy trang, bò trườn êm nhẹ không gây tiếng động qua các lớp rào thép gai, khéo léo gạt mìn và định vị góc áp sát chân tháp canh mà lính gác trên đỉnh không thể quan sát thấy (điểm mù).
Trận đánh lịch sử đêm 19/03/1948: Đêm 19 rạng sáng 20 tháng 3 năm 1948, tổ đặc nhiệm gồm các chiến sĩ do Trần Công An trực tiếp chỉ huy đã bí mật vượt qua các hàng rào rào gai, tiếp cận chân tháp canh cầu Bà Kiên. Quả nổ được áp sát góc tháp canh và điểm hỏa. Một tiếng nổ chấn động vang lên, toàn bộ tháp canh kiên cố đổ sụp, tiêu diệt gọn toán lính Pháp bên trong mà ta hoàn toàn không bị thương vong.
Trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên mở màn thắng lợi rực rỡ, đánh dấu sự ra đời của lối đánh Đặc công – hình thức tác chiến độc đáo bậc nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 19 tháng 3 năm 1948 sau này đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chọn làm Ngày truyền thống của Binh chủng Đặc công anh hùng.
Sau trận Bà Kiên, ông liên tục chỉ huy đánh sập hàng loạt tháp canh khác trên lộ 16, cầu Lục Quân, bến đò Lợi Hòa..., làm phá sản hoàn toàn chiến thuật De Latour của thực dân Pháp trên toàn chiến trường miền Đông.
Người chỉ huy công binh đặc công mưu lược qua hai cuộc kháng chiến
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Trần Công An tập kết ra Bắc, tiếp tục công tác trong lực lượng công binh và tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự, chuẩn hóa tài liệu huấn luyện đặc công, công binh dã chiến.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, ông vượt Trường Sơn trở lại chiến trường miền Đông Nam Bộ:
Ông được giao giữ các trọng trách: Tỉnh đội phó Biên Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Lực lượng Đặc công Rừng Sác (Đoàn 10 Rừng Sác), rồi Trưởng ban Đặc công Miền.
Tại căn cứ Rừng Sác hiểm trở, ông trực tiếp chỉ đạo, truyền thụ kinh nghiệm luồn sâu đánh hiểm cho các chiến sĩ đoàn 10: vận dụng địa hình sình lầy, sông nước, chế tạo thủy lôi, mìn hẹn giờ để đánh chìm các tàu quân sự trọng tải hàng vạn tấn của Mỹ trên luồng sông Lòng Tàu; đột kích thiêu rụi kho xăng Nhà Bè, tổng kho bom Long Bình, phá hủy hàng triệu tấn phương tiện chiến tranh của đối phương.
Mang quân hàm Đại tá, ông luôn là chỗ dựa tin cậy của Bộ Tư lệnh Miền về các phương án đánh thọc sâu vào các căn cứ đầu não của đối phương trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Vị tướng không sao và tấm lòng thanh bạch thời bình
Sau ngày non sông thu về một mối, Đại tá Trần Công An tiếp tục cống hiến cho công tác tổng kết lịch sử quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai và Quân khu 7.
Dù được toàn quân suy tôn là "người khai sinh ra lối đánh đặc công", Đại tá Trần Công An luôn giữ cho mình một phong cách sống khiêm nhường, giản dị, mộc mạc và chân thành:
Ông luôn khẳng định: "Cách đánh đặc công là sáng kiến của tập thể chiến sĩ, là trí tuệ của nhân dân đúc kết lại, tôi chỉ là người có may mắn cùng anh em đi đầu thực hiện".
Khi nghỉ hưu tại thành phố Biên Hòa, ông tích cực tham gia các hoạt động cựu chiến binh, chăm lo cho gia đình chính sách, đồng chí, đồng đội cũ nghèo khó, nhiệt tình truyền lửa truyền thống cách mạng cho thế hệ thanh niên.
Ghi nhận những cống hiến to lớn, mang tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng quân đội và nghệ thuật quân sự Việt Nam, năm 1996, Đại tá Trần Công An đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đại tá Trần Công An tạ thế năm 2008 tại quê nhà Đồng Nai, hưởng thọ 88 tuổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn và niềm kính phục sâu sắc trong lòng cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Đặc công và lực lượng vũ trang cả nước.
Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Công An là một tượng đài bất tử về trí thông minh, tinh thần tự lực tự cường và nghệ thuật quân sự đỉnh cao của dân tộc Việt Nam. Từ người thợ rèn đất Đồng Nai đến trận đánh sập tháp canh cầu Bà Kiên lịch sử năm 1948, tên tuổi của "Hai Cà" Trần Công An mãi mãi được tạc vào trang sử vàng của Quân đội nhân dân Việt Nam, là niềm kiêu hãnh trường tồn của Binh chủng Đặc công kiên cường, bách chiến bách thắng.



