Cựu chiến binh

ÔNG TÔI

- Họ và tên nhân chứng: Trần Văn Côn - Sinh năm: 1947 - Quê quán: xã Đào Xá, tỉnh Phú Thọ - Thời gian phục vụ chiến đấu: 1966 - Đơn vị: Đoàn 7 – Cục Quản lý doanh trại – Tổng Cục Hậu cần - Địa bàn phục vụ chiến đấu: Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Nội - Số điện thoại nhân thân: 0921105036

Phú Thọ09/02/2026Trần Đào Huyền My (THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã Thanh Thuỷ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức thuở ấu thơ của tôi, ông nội là một người hiền lành, luôn yêu chiều các cháu. Nhưng đến khi lớn lên, có nhận thức tôi mới biết người ông với dáng vẻ điềm tĩnh ấy khi mới tuổi đôi mươi đã trải qua biết bao cơn bom, bão đạn để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nay khi tôi hỏi về những năm tháng xưa, tuy tuổi cao nhưng những ký ức năm nào như vẫn mới xảy ra, ông vẫn nhớ về “thời hoa lửa” ấy, cái thời mà người thanh niên năm nào bất chấp tính mạng của bản thân để cứu những người khác.

1.Những bỡ ngỡ ngày đầu:

Năm 1966, sau khi hoàn thành đào tạo, chàng bác sĩ trẻ ngày ấy được điều lên Lào Cai với nhiệm vụ hướng dẫn vệ sinh, phòng, khám, chữa bệnh cho đồng bào miền núi. Ông kể: “Khi mới lên, nhìn xung quanh là những người lạ lẫm, tiếng nói bất đồng ông cảm thấy sợ sệt, ngỡ ngỡ”. Nhưng không bỏ cuộc, ông tập nói tiếng dân tộc, “ăn cùng ở cùng”, hơn hết, đó chính là tình người, nhờ điều đó đã tiếp cho ông sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ, góp sức cho đất nước.

2.Đời sống gian lao:
Chiến tranh không chỉ có mưa bom, bão đạn mà còn là sự thiếu thốn đủ đường. Ông vẫn nhớ như in những chuyến đi bộ đường dài, hôm nay ở Bảo Nhai, ngày mai ở Bắc Bà, ngày kia ở Si Ma Cai,…khó khăn, vất vả là vậy nhưng ông vẫn kiên trì vì ông không chỉ có một mình, đồng hành cùng còn là những đồng bào dân tộc tuy lạ lẫm nhưng lại thân thuộc. Ông kể: “Những ngày đấy ông hay ngủ nhờ nhà người dân, họ giúp đỡ nhiệt tình, để đáp lại ông cũng dậy sớm quét dọn và khám bệnh cho họ”.

Cùng với sự khó khăn trong đi lại, là sự thiếu thốn lương thực, vật tư. Trong kí ức của ông, điều ông không bao giờ quên là những đêm sương giá rét nơi vùng cao, vật tư thiếu thốn, chăn không đủ ấm, ông và những người đồng đội phải đi cắt lá chuối để đắp cho đỡ lạnh.

Dẫu vậy, trong lúc khó khăn, thiếu thốn, cái lạnh bủa vây, thật đáng quý khi còn người ta vẫn tìm được sự ấm áp trong lòng người. Khó khăn là vậy, nhưng những con người bất khuất ấy vẫn chia sẻ miếng cơmn để cùng vượt qua gian khó.

3.Những chuyến xe sinh tử và nhiệm vụ “kép”:
Nhiệm vụ của một bác sĩ nơi vùng cao không chỉ có khám, chữa bệnh cho người dân mà còn là những nhiệm vụ phải đối mặt với nguy hiểm, tử thần. Suốt những năm tháng ở Lào Cai, chàng bác sĩ trẻ ấy luôn phải di chuyển qua lại giữa Lào Cai và Hà Nội để lấy thuốc men, vật tư ý tế. Dưới làn mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, ông luôn phải cận trọng trong từng hành động, ông kể: “Khi đi đến ga tàu mà thấy đằng xa có tiếng bom thì phải chạy vào rừng ngay, đến tối mới dám đi đến ga tiếp theo”.

Nguy hiểm là thế nhưng ông không bao giờ bỏ cuộc, ông vẫn đều đặn di chuyển như vậy, đây có lẽ là tinh thần của biết bao thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Tuy có sợ, có nguy hiểm nhưng họ vẫn tiến lên, xông pha vì nước, vì dân.

4.Nỗi lòng của người con xa xứ:

Đằng sau vẻ kiên cường, bất khuất, không ngại mưa bom bão đạn của người thầy thuốc ấy, chính là những giây phút buồn tủi. Ông tâm sự với tôi về nỗi buồn, tủi thân vào những ngày Tết, nhìn mọi người xung quanh xum vầy, háo hức trong lòng ông khi ấy là nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ gia đình, mẹ già, bởi dù may mắn được mọi người quan tâm, thương yêu nhưng với ông vào những ngày ấy “không nơi đâu bằng nhà”.

Đây có lẽ là nỗi niềm của biết bao người thanh niên trẻ lúc bấy giờ, dù họ có xông pha ra chiến trường, dũng cảm đối mặt với hiểm nguy. Nhưng bên trong họ vẫn là những đứa con của cha, của mẹ, vì chiến tranh mà phải rời xa nơi chôn rau, cắt rốn, rời xa vòng tay ấm áp của cha mẹ với chung một lý tưởng đó là “Giải phóng đất nước”.

5.Một tháng quân ngũ và hoà bình vỡ oà:

Năm 1975, chiến tranh ác liệt, giặc Mỹ không ngừng tấn công, khi ấy, cả nước tổng động viên. Ông tôi cũng được điều đi tham gia, khi ấy, ông làm nhiệm vụ xây dựng, sửa chữa doanh trại, làm đủ mọi việc để đồng đội có nơi trú quân an toàn.

Nhưng chỉ đúng một tháng sau, đất nước hoàn toàn giải phóng. Mọi người reo hò, hạnh phúc trong niềm vui được đánh đổi trong 30 năm qua. Đối với ông tôi, thời gian ông mặc áo lính tuy ngắn ngủi, nhưng với ông đó là sự tiếp nối đáng tự hào cho gần 10 năm cống hiến thầm lặng trong màu áo trắng y sĩ trước đó.

Câu chuyện của ông tôi đã giúp tôi biết thêm về “sự hi sinh” với đất nước, đó không chỉ là sự hi sinh nơi chiến trường khốc liệt, mà còn là sự hi sinh nơi hậu phương với những y bác sĩ, những người dân vận chuyển lương thực,…Thông qua câu chuyện này, tôi mong thế hệ trẻ chúng tôi sẽ mãi mãi nhớ công lao, hi sinh của những người đi trước để có được Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay. .

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn