Người có công giúp đỡ cách mạng

Ông tôi, chuyện một đời bà nhớ

Một người lính ra đi trong thời hoa lửa, một người vợ dành cả cuộc đời để chờ đợi và một người cháu sinh ra trong hòa bình mang câu chuyện của ông đi tiếp. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về ông vẫn còn nguyên trong trái tim gia đình. Câu chuyện là lời tri ân dành cho người đã hy sinh, là niềm hy vọng tìm đưa ông trở về, và cũng là cách để thế hệ hôm nay gìn giữ, kể lại câu chuyện của những người đã góp tuổi trẻ của mình cho hòa bình của đất nước.

Quảng Ngãi23/08/2026Phạm Thị Quỳnh Na (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ khi còn nhỏ, tôi đã được nghe bà ngoại, ba mẹ kể về một người trong gia đình mà tôi chưa từng một lần được gặp mặt. Đó là ông ngoại tôi – một người lính đã ra đi khi tuổi đời còn trẻ, mang theo tình yêu dành cho gia đình và quê hương để bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

     Tôi sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa. Tôi chưa từng nhìn thấy ông, chưa từng được nghe ông gọi một tiếng “cháu”, cũng chưa từng được nắm lấy bàn tay của người ông mà cả gia đình luôn nhắc đến bằng tất cả niềm tự hào. Hình ảnh về ông trong tôi chỉ được ghép lại từ những câu chuyện bà kể, từ tấm ảnh cũ và từ những ký ức mà bà đã gìn giữ suốt cuộc đời.

Ông tôi tên là Võ Ngọc Anh, quê ở xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũ.

Ngày ấy, khi đất nước đang trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông rời gia đình lên đường làm nhiệm vụ. Khi ấy, ông khoảng ba mươi tuổi – cái tuổi mà đáng lẽ một người đàn ông có thể chọn cuộc sống bình yên bên vợ con, chăm lo cho gia đình nhỏ của mình. Nhưng ông đã chọn lên đường.

Tôi thường hình dung về khoảnh khắc ấy qua lời kể của bà. Có lẽ ngày ông đi, trong căn nhà nhỏ có một người vợ trẻ đứng tiễn chồng, phía sau là những đứa con còn thơ dại. Bà biết con đường ông đi sẽ đầy gian khổ và hiểm nguy, nhưng bà vẫn động viên ông lên đường vì đất nước.

Còn ông, có lẽ cũng mang theo trong lòng hình ảnh của người vợ và những đứa con bé bỏng. Ông ra đi, để lại sau lưng một mái nhà đang chờ đợi.

Những năm tháng chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bà ở lại quê nhà, vừa làm công tác ở địa phương, vừa một mình chăm lo cho các con. Cuộc sống trong những năm chiến tranh vốn đã khó khăn, thiếu thốn, lại thêm nỗi lo không biết người thân của mình đang ở đâu, hôm nay có bình an hay không.

Bà kể rằng trong thời gian ông đi chiến đấu, bà cũng từng bị địch bắt và trải qua những lần tù đày. Có những lúc cuộc sống tưởng như bị dồn đến tận cùng của gian khổ, nhưng bà vẫn cố gắng vượt qua. Trong lòng bà luôn có một niềm tin rằng rồi sẽ có ngày ông trở về. Ngày ấy, thư từ giữa chiến trường và hậu phương chẳng dễ dàng gì. Mỗi tin tức về người thân đều quý giá vô cùng. Bà cứ chờ, cứ hy vọng.

Chờ một ngày cánh cửa mở ra.

Chờ một bóng người quen thuộc bước về.

Chờ một tiếng gọi thân thương từ người chồng đã xa nhà bao năm.

Nhưng rồi chiến tranh kết thúc.

Đất nước hòa bình.

Những người lính trở về trong niềm vui đoàn tụ. Những gia đình được gặp lại người thân sau bao năm xa cách. Những người mẹ được ôm con, những người vợ được gặp lại chồng.

Còn gia đình tôi… vẫn chờ.

Sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình tôi mới dần biết được tin ông đã hy sinh. Ông cùng hai người đồng đội đã mãi mãi nằm lại trong một trận chiến. Ông hy sinh trên mảnh đất Trà Giang. Ba người lính đã ra đi, để lại phía sau những gia đình vẫn ngày đêm ngóng chờ.

Gia đình tôi đã nhiều lần tìm kiếm thông tin về ông, mong muốn tìm được nơi ông đã nằm lại để đưa ông trở về với quê hương, với gia đình. Nhưng chiến tranh đã đi qua quá lâu. Những dấu tích của chiến trường năm xưa dần thay đổi theo thời gian. Đến hôm nay, gia đình vẫn chưa xác định được chính xác phần mộ của ông. Đó có lẽ là nỗi đau khó gọi thành lời. Bởi mất đi một người thân đã là một nỗi đau rất lớn. Nhưng không biết người thân của mình đang nằm ở đâu lại là một nỗi đau kéo dài theo năm tháng.

Bà tôi không có cơ hội được nhìn thấy ông lần cuối.

Các con của ông cũng lớn lên mà không có cha bên cạnh.

Còn tôi – một đứa cháu sinh ra khi chiến tranh đã kết thúc từ lâu – chỉ có thể biết về ông qua những câu chuyện của bà.

Tôi từng tự hỏi: Một người đã hy sinh hơn nửa thế kỷ trước thì trong ký ức của gia đình còn lại những gì?

Có lẽ với đất nước, ông là một người lính đã góp tuổi trẻ của mình cho cuộc kháng chiến.

Nhưng với bà, ông không chỉ là một người lính. Ông là người chồng mà bà đã chờ đợi suốt cả cuộc đời. Ngày ông ra đi, bà mới khoảng ba mươi tuổi. Tuổi trẻ của bà còn rất dài. Nhưng kể từ ngày ấy, cuộc đời bà đã gắn với hai chữ chờ đợi. Bà một mình nuôi các con, bà làm việc, bà vượt qua những năm tháng khó khăn, bà cố gắng sống tiếp với hy vọng một ngày nào đó ông sẽ trở về.

Rồi năm tháng cứ thế trôi qua. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, rồi bốn mươi, năm mươi năm…Đến nay đã 62 năm.

Sáu mươi hai năm – một khoảng thời gian dài hơn cả tuổi thanh xuân của một đời người. Năm nay bà đã 92 tuổi, mái tóc bà đã bạc, bước chân đã chậm hơn, nhưng tôi vẫn thấy bà nhắc về ông bằng một sự chờ mong chưa bao giờ nguôi. Ngày nào bà cũng cầu nguyện, mong ông sớm trở về với gia đình, với quê hương, với đất mẹ. Tôi từng nghĩ rằng, sau ngần ấy năm, có lẽ gia đình chỉ còn biết chấp nhận sự mất mát ấy. Nhưng rồi hôm nay, khi đất nước đang triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, trong lòng gia đình tôi như được thắp sáng một niềm hy vọng. Đây là chiến dịch quy mô lớn nhằm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính những hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, được triển khai từ tháng 3 năm 2026 đến tháng 7 năm 2027. Tôi biết rằng hành trình tìm kiếm một người đã hy sinh từ những năm tháng chiến tranh sau hơn nửa thế kỷ là vô cùng khó khăn. Nhưng ít nhất hôm nay, gia đình tôi và những gia đình khác vẫn có thêm một hy vọng.

Hy vọng tìm được ông.

Hy vọng tìm được nơi ông đã nằm lại trên mảnh đất Trà Giang.

Hy vọng một ngày nào đó, gia đình có thể đưa ông trở về quê hương.

Về với nơi ông đã sinh ra và lớn lên.

Về với người vợ đã chờ ông suốt 62 năm.

Về với những người con đã lớn lên trong nỗi nhớ cha.

Và về với những đứa cháu như tôi – những người chưa từng được gặp ông nhưng luôn tự hào khi nhắc đến tên ông.

Tôi là một đứa cháu được sinh ra trong thời bình.

Tôi chưa từng trải qua chiến tranh.

Tôi chưa từng nghe tiếng bom đạn như thế hệ ông bà.

Tôi được đến trường, được học tập, được vui chơi và được sống trong những ngày tháng bình yên.

Ngày nhỏ, tôi nghĩ đó là điều bình thường. Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng sự bình yên ấy không tự nhiên mà có. Đằng sau những ngày tháng bình yên của chúng tôi là tuổi trẻ của biết bao người đã gửi lại chiến trường.

Là những người lính ra đi mà không trở về.

Là những người mẹ chờ con.

Là những người vợ chờ chồng.

Là những đứa trẻ lớn lên mà thiếu bóng cha.

Và trong đó có ông tôi.

Tôi viết câu chuyện này không phải để kể về một điều gì quá lớn lao. Tôi chỉ muốn kể về ông tôi – một người ông mà tôi chưa từng được gặp nhưng đã trở thành một phần ký ức sâu đậm trong gia đình.

Tôi muốn kể về ông để thế hệ của tôi hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao hy sinh của thế hệ đi trước.

Tôi cũng muốn kể về bà tôi – người phụ nữ đã dành gần như cả cuộc đời để nhớ một người. Bà đã chờ ông trở về bằng một bước chân. Còn tôi hôm nay, chỉ mong có thể đưa ông trở về bằng những trang viết. Có thể tôi không biết ngày ông ra đi có những gì xảy ra. Tôi cũng không biết hết những năm tháng ông đã trải qua nơi chiến trường. Nhưng tôi biết một điều: Ông đã hy sinh vì đất nước và sự hy sinh ấy chưa bao giờ bị gia đình lãng quên.

Tôi vẫn mong một ngày nào đó, từ những thông tin mà gia đình còn lưu giữ, từ những người từng biết ông, từ những dấu vết còn lại của chiến trường, chúng tôi có thể tìm thấy ông.

Để bà có thể một lần được đến bên ông.

Để những người con có thể gọi một tiếng “cha”.

Để những đứa cháu như tôi có thể đứng trước ông và nói:

“Ông ơi, chúng cháu vẫn nhớ ông.

Đất nước đã hòa bình rồi.

Bà vẫn chờ ông về.

Gia đình mình vẫn ở đây.

Và hôm nay, đất nước đang đi tìm ông.

Chúng cháu sẽ không để ông bị lãng quên.”

Ông đã ra đi từ những năm tháng chiến tranh. Bà đã dành cả một đời để nhớ.

Còn tôi – một đứa cháu được sinh ra trong hòa bình – xin được kể lại câu chuyện ấy để ký ức về ông không chìm vào quên lãng. Bởi có những người dù đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi trái tim của những người ở lại.

Ông tôi – một người lính của thời hoa lửa.

Bà tôi – một đời chờ đợi.

Và tôi – một đứa cháu của hòa bình, mang câu chuyện của ông đi tiếp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn