ông Trịnh Đình Tuy - Một thời hoa lửa
Chiều muộn, trong ngôi nhà giản dị ở thôn 1 Yên Lược, xã Thọ Lập, tỉnh Thanh Hóa, ông Trịnh Đình Tuy ngồi trầm lặng bên hiên. Thời gian đã in lên mái tóc bạc và đôi mắt đã yếu đi nhiều sau những năm tháng chiến tranh. Nhưng khi nhắc đến những ngày cũ, giọng ông bỗng trầm xuống, như thể cả một thời tuổi trẻ bừng lên trong ký ức.
Ông kể rằng mình nhập ngũ năm 1962, khi còn rất trẻ. Khi ấy ông thuộc Sư đoàn 330 Tây Hồ, đơn vị trinh sát pháo binh được thành lập trong bối cảnh chiến trường đang căng thẳng. Phía bên kia, chính quyền Ngô Đình Diệm liên tục hô hào “lấp sông Bến Hải, tiến ra miền Bắc”. “Thời điểm ấy, ai cũng hiểu rằng đất nước đang đứng trước thử thách lớn,” ông chậm rãi nói. “Vì vậy thanh niên chúng tôi chỉ có một suy nghĩ: nếu Tổ quốc cần thì mình phải đứng lên. “Nhiệm vụ của ông khi ấy là đặt pháo ở những vị trí chiến lược, trong đó có khu vực trên tuyến đường dẫn về xã Bái Thượng. Ông nhớ rõ từng tọa độ như một thói quen đã ăn sâu vào trí nhớ: “Chỉ cần đặt pháo đúng tọa độ Oxy, tính toán chuẩn xác là có thể đánh trúng xe pháo của địch.”
Những con số khô khan của pháo binh thực ra là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Ông kể rằng vào năm 1963, khi đơn vị diễn tập bắn pháo ở Sầm Sơn, việc tính toán đường đạn phải dùng đến logarit sáu số để xác định quỹ đạo pháo từ Bắc vào Nam.“Ngày ấy chúng tôi tính toán rất kỹ,” ông cười nhẹ. “Chỉ cần sai một chút thôi là đường pháo có thể lệch đi hàng trăm mét”. Ông tham gia chiến đấu trong hai năm đầu, sau đó trở về địa phương. Năm 1964, hợp tác xã giao cho ông giữ chức chủ nhiệm. Cuộc sống vừa bắt đầu ổn định thì ông lại nhận lệnh lên đường lần thứ hai vào cuối năm 1967 – đầu năm 1968.
Nhắc đến giai đoạn ấy, giọng ông bỗng chùng xuống. Ông nói khi trở về sau chiến tranh, gia đình đã đổ nát hoàn toàn. Mọi thứ phải bắt đầu lại từ con số không. “Chiến tranh qua rồi nhưng cuộc sống sau đó mới thật sự gian nan,” ông kể. Năm 1974, ông chính thức trở về hẳn với gia đình. Nhưng chiến tranh đã để lại dấu vết nặng nề: hai lá phổi không còn khỏe, mắt yếu đi nhiều và tai không còn nghe thấy. Ông từng mắc bệnh lao – căn bệnh đã cướp đi sinh mạng của không ít người bạn chiến đấu của mình. “Có nhiều đồng đội của tôi không kịp trở về,” ông nói khẽ. “Tôi may mắn hơn họ.”
Những lúc nhắc đến đồng đội, đôi mắt ông đỏ hoe. Đó là khoảnh khắc khiến người đối diện cảm nhận rõ nhất sự khốc liệt của chiến tranh – không phải chỉ trong bom đạn, mà còn trong những mất mát kéo dài đến tận hòa bình.Ông từng nói một câu khiến chúng tôi lặng người:“Những người đi đánh Mỹ ở khu vực này, ít ai phải chịu cảnh ngộ như tôi”. Nhưng điều khiến người ta khâm phục ở ông không phải là những gian nan ấy, mà là ý chí đứng dậy sau chiến tranh.Vợ ông làm công nhân trong một nhà máy may. Còn ông làm đủ nghề để nuôi gia đình. Có thời gian, ông phải đạp xe hơn 80 cây số để đi làm rồi trở về nhà. Ngoài ra, ông còn canh tác ba sào ruộng để lo cho cuộc sống. “Lúc ấy chỉ nghĩ đơn giản là phải nuôi các con ăn học” ông kể. Những người con của ông lần lượt đỗ đại học, từng người nối tiếp nhau bước vào giảng đường. Đó có lẽ là thành quả lớn nhất của những năm tháng lao động không ngừng nghỉ của ông và vợ. Khi được hỏi nếu có cơ hội quay lại quá khứ, ông có chọn con đường ấy một lần nữa hay không, ông cười hiền rồi nói:“Nếu có phép thần của Tôn Ngộ Không cho tôi quay lại những năm tháng ấy, tôi vẫn sẵn sàng phất cờ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.”
Rời ngôi nhà nhỏ ở Yên Lược, câu chuyện của ông vẫn còn đọng lại rất lâu. Những ký ức ấy không chỉ là lịch sử của một con người, mà còn là ký ức của cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh với lòng tin mãnh liệt vào Tổ quốc. Một thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng ánh sáng của nó vẫn âm thầm soi rọi vào hiện tại – nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao tuổi trẻ, biết bao cuộc đời.


