Ống trúm lươn mang mật lệnh giữa cánh đồng tràm Tịnh Biên
Ống trúm lươn mang mật lệnh giữa cánh đồng tràm Tịnh Biên
Mùa khô năm 1973, chiến trường vùng biên thùy Tịnh Biên (An Giang) bước vào giai đoạn giằng co vô cùng quyết liệt. Quân đội Mỹ và lính bảo an thiết lập một hệ thống chốt chặn dày đặc dọc theo các bờ kênh và lối mòn dẫn vào mật khu rừng tràm nhằm bóp nghẹt mọi đường dây giao liên của ta. Địch tăng cường rà soát, kiểm tra tất cả những người dân ra đồng làm ruộng, thả câu, bắt cá vì nghi ngờ họ làm tai mắt cho cách mạng.
Để truyền đạt một bản chỉ thị khẩn cấp của Huyện ủy vào cứ cho đơn vị du kích chuẩn bị đối phó với một trận càn lớn, chú Ba Đờn — một cơ sở cách mạng bí mật sống tại vùng ven rừng tràm — đã nảy ra một sáng kiến ngụy trang vô cùng độc đáo từ chính công việc mưu sinh hằng ngày của mình: Nhét mật lệnh vào ống trúm bẫy lươn.
Ống trúm là một dụng cụ làm bằng thân tre già, khoét rỗng, một đầu có đặt chiếc hom tre để lươn chui vào mà không ra được, bên ngoài thường dính đầy bùn sình và bốc mùi tanh nồng của mồi cá ươn trộn với bùn đất. Chú Ba Đờn đã khéo léo dùng một đoạn tre nhỏ, rỗng ruột khác làm thành một chiếc ngăn kép siêu nhỏ nằm khuất sau chiếc hom tre ở đầu ống trúm. Bản mật lệnh được viết bằng mực hóa học trên giấy pơ-luya mỏng như lá lúa, cuộn tròn gọn gàng rồi nhét vào ngăn kép đó, sau đó chú chét một lớp bùn non trộn với keo nhựa cây khít rịt để nước không thể ngấm vào. Chú bó chiếc ống trúm này lẫn vào giữa hơn chục chiếc ống trúm bốc mùi tanh sặc sụa khác đặt trên chiếc xuồng ba lá, thong thả chèo ra đồng dầm.
Khoảng 2 giờ chiều, khi chiếc xuồng của chú Ba Đờn vừa chèo qua một khúc kênh rạch chật hẹp gần đồn lính dã chiến, tiếng quát lớn vang lên. Hai tên lính dân vệ mang súng AR15 đứng trên bờ vẫy tay ra hiệu, hầm hầm ép chú phải tấp xuồng vào bờ để kiểm tra.
Giữa lằn ranh sinh tử, khi bản chỉ thị tối mật quyết định xương máu của cả đơn vị đang nằm ngay trong chiếc ống trúm sát họng súng giặc, chú Ba Đờn vẫn giữ gương mặt bình thản, ráo hoảnh của một lão nông lam lũ. Chú ghìm chèo, quệt mồ hôi trên vầng trán rạm nắng rồi đon đả cười nói: "Mấy thầy đi tuần trưa nắng nực hung ha. Già tranh thủ đi thả mấy ống trúm kiếm con lươn, con rắn về nấu nồi canh chua cho mấy đứa nhỏ ở nhà, chứ có gian lận gì đâu mà mấy thầy coi kỹ dữ vậy."
Một tên lính nghi ngờ nhảy tót xuống xuồng, hắn dùng báng súng hất tung bó ống trúm lên. Mùi bùn sình hôi thối kết hợp với mùi mồi dụ lươn tanh nồng lập tức sộc thẳng vào mũi khiến hai tên lính nhăn mặt, bịt mũi lùi lại phía sau. Tên lính cầm một chiếc ống trúm lên, định thọc tay vào trong kiểm tra, nhưng nhìn thấy lớp sình lầy nhớp nháp dính đầy thành tre, hắn ngại bẩn tay nên chủ quan ném mạnh chiếc ống trúm trở lại sàn xuồng, chửi đổng: "Thôi đi đi! Mùi gì bay điếc cả mũi, đúng là cái thứ nghèo nàn bẩn thỉu!"
Chú Ba Đờn bình thản dọn lại bó ống trúm, cười chất phác rồi quẩy mái chèo, cho chiếc xuồng ba lá lướt nhanh qua khúc kênh trong sự nhẹ nhõm của lòng mình. Ngay đêm hôm đó, khi bóng tối bao trùm cả cánh đồng tràm, chiếc xuồng của chú tấp vào một bến nước vắng khuất sau rặng sậy — nơi các chiến sĩ du kích đang mai phục sẵn. Chiếc ống trúm đặc biệt được chẻ ra, bản mật lệnh hoàn toàn khô ráo, nguyên vẹn được trao tận tay ban chỉ huy để kịp thời rút lực lượng vào thế trận phòng ngự, bẻ gãy hoàn toàn trận càn quét của giặc ngay ngày hôm sau.
Câu chuyện về chiếc ống trúm lươn của chú Ba Đờn bên cánh đồng tràm Tịnh Biên là một thực tế lịch sử sinh động về trí tuệ và tấm lòng kiên trung của người dân An Giang thời hoa lửa. Bằng việc thấu hiểu tường tận tâm lý kẻ thù và tận dụng chính những vật dụng mưu sinh bình dị nhất của quê hương dưới sự lãnh đạo bám rễ sâu trong lòng nhân dân của Đảng, những người chiến sĩ thầm lặng đã dệt nên một mạng lưới giao liên thông suốt, bảo vệ mạch máu thông tin để đưa cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi hoàn toàn.


