Bài viết

ông Vi Văn chiêu

Lào Cai12/01/2026Hoàng Hương Vinh (trường TH & THCS Minh Tiến số 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người không ghi tên mình vào sử sách bằng những chiến công lẫy lừng hay những mốc son chói lọi, mà bằng cả một đời âm thầm cống hiến cho Tổ quốc. Họ là những nhân chứng sống của chiến tranh, dùng cả đời mình tham gia và cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến của cả dân tộc, chứng kiến những sự kiện lịch sử mà không một cuốn sách hay số sách có thể ghi chép lại, mà được họ ghi nhớ vào trong ký ức, ký ức về một “Thời Hoa Lửa” gian khó nhưng đầy tự hào. Với em, câu chuyện của bác Vi Văn Chiêu, sinh năm 1945 là một câu chuyện giản dị mà chứa chan muôn vàn cảm xúc. Vào một buổi chiều hè, với bầu trời trong xanh, cánh đồng lúa hương thơm ngào ngạt của hương lúa, em và bác cùng ngồi dưới trên chiếc võng bên hiên nhà, tận hưởng không khí yên bình. Em hỏi bác về cuộc đời của người từng tham gia quân đội trong thời kỳ kháng chiến của dân tộc. Nghe em hỏi, bác trầm ngâm suy nghĩ như đang hồi tưởng lại một quãng đời đã xa, rồi bác bắt đầu câu chuyện của mình. Bác sinh ra trong một gia đình lao động bình dị. Tuổi thơ của bác gắn liền với ruộng đồng và làng bản, và những năm kháng chiến đã in sâu trong ký ức của bác. Bác kể, lúc đó còn nhỏ, con đói kém nhưng khi Tổ quốc cần, dù lúc ấy bác còn rất trẻ, nhưng bác cảm thấy trong tim mình bừng lên ngọn lửa của lòng yêu nước, ngọn lửa của nhiệt huyết tuổi trẻ. Nó càng bùng sáng lên khi bác nghe thấy tiếng gọi của Tổ quốc. Bác quyết định làm theo con tim, theo lý trí, theo tiếng gọi của Tổ quốc, bước lên đường nhập ngũ với tinh thần gan dạ, ý thức trách nhiệm của một người con đất Việt.

Tháng 2 năm 1961, bác Vi Văn Chiêu chính thức tham gia kháng chiến, đóng quân tại đồn 13, xã Mường Bườn, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu. Những năm đầu ấy là quãng thời gian đầy thử thách. Từ một chàng trai quen với cuộc sống bản làng, bác phải làm quen với kỷ luật nghiêm ngặt, những buổi huấn luyện gian khổ và cuộc sống thiếu thốn đủ bề. Huấn luyện gian khổ và rèn luyện sức khỏe, tinh thần thép. Cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nhưng tinh thần chiến đấu của những người lính trẻ tràn đầy nhiệt huyết với trái tim cháy bỏng tình yêu Tổ quốc thì chưa bao giờ nguội lạnh. Từ năm 1964 đến năm 1967, bác đảm nhiệm vụ chiến sĩ tại Tiểu đoàn bảo vệ an ninh, trật tự và giữ gìn tuyến biên giới trong bối cảnh chiến tranh diễn ra ác liệt. Những năm tháng ấy, bác và đồng đội phải thường xuyên hành quân trong rừng rậm, vượt núi băng suối, đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Bom đạn của kẻ thù, bệnh tật rừng núi và sự thiếu thốn lương thực nhưng không một ai lùi bước.

Đến năm 1967, bác được giao nhiệm vụ chính tại đồn 13, phụ trách các xã dọc tuyến biên giới Việt – Lào phía nước bạn Lào. Bác phụ trách các xã Nà Lầm, Bồn Xây, thuộc huyện Nặm Ngà, tỉnh Phong Sa Ly (thuộc Hạ Lào). Phía nước ta, bác phụ trách các xã Mường Mươn, Mường Pồn, Huổi Lèng. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm mà còn sự tỉnh táo, gắn bó, trách nhiệm và tinh thần quốc tế cao cả. Lúc này giọng bác trầm xuống, bác kể tiếp những năm tháng công tác nơi núi rừng giáp biên, bác và đồng đội phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn. Bác và đồng đội vừa làm nhiệm vụ giữ an ninh, vừa giúp đỡ nhân dân hai bên biên giới ổn định cuộc sống, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị Việt – Lào. Có những đêm tuần tra trong rừng rậm, mưa rét thấm vào da thịt nhưng bác vẫn kiên trì bám trụ, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chiến tranh không chỉ là tiếng súng và bom đạn mà còn là sự hy sinh thầm lặng. Bác đã chứng kiến đồng đội ngã xuống, nằm lại nơi rừng núi thâm thẳm. Nhưng ký ức đau thương ấy không thể làm bác chùn bước, bởi tiếng gọi của Tổ quốc, của quê hương, của gia đình, của những đứa bé mới 4–5 tuổi tiếng gọi tha thiết giữa hòa lẫn trong tiếng bom đạn, hằn sâu trong ký ức. Nó khiến không thể nào quên.

Kể đến đây bác như nghẹn lại, mắt rưng rưng những giọt nước mắt trực chờ rơi xuống. Người đàn ông ấy một con người vĩ đại ấy đã mạnh mẽ đi từ thời chiến đến thời bình, từng mạnh mẽ gian khó không bỏ cuộc, không chịu khuất phục trước gian nan, mà giờ đây đôi mắt đầy đầy khát vọng và ngọn lửa ấy đã ngấm đầy nước mắt. Lúc giọt nước mắt của bác rơi xuống cũng là lúc cảm xúc của em vỡ òa. Em hiểu bác khóc không phải vì khóc cho cuộc đời mình cho những gian khó bác đã phải đối mặt mà bác khóc khóc vì những người đồng đội nằm xuống, những gia đình, đứa trẻ mất người thân xa quê hương vì bị chiến tranh tàn phá. Giọt nước bờ má rơi xuống cùng như giọt nước tràn ly, cảm xúc vỡ òa, bác vẫn nhìn xa xăm nơi đồng lúa vàng nở rộ như đang nhìn về quá khứ... Giọng bác run run và kể tiếp, tuổi thơ đầy đau buồn, nhưng cũng phải biến đau thương thành động lực để bác cùng thêm quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Năm 1978, bác được điều chuyển công tác về Trung đoàn 16, thuộc Bộ Tư lệnh Công an vũ trang, đóng tại xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Tại đây, bác tiếp tục cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, còn nhiều khó khăn, thử thách. Đến năm 1983, bác được bổ nhiệm làm Phó giám thị trại giam quân khu 2, tại xã Hợp Minh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Trên cương vị mới, bác luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc, nhân văn, góp phần giữ vững kỷ cương, pháp luật và trật tự xã hội. Năm 1984, bác nghỉ hưu theo chế độ, tuy rời quân ngũ nhưng bác không rời trách nhiệm với quê hương. Bác tiếp tục tham gia công tác xã, đóng góp kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho công việc chung. Đến năm 1991, khi Hội Cựu chiến binh được thành lập, bác giữ vai trò Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Minh Tiến cho đến năm 2000 mới nghỉ công tác. Từ năm 2000 bác đảm nhiệm vai trò Bí thư chi bộ kiêm Trưởng thôn thôn Làng Sảo, là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và phẩm chất của người đảng viên. Không biết từ khi nào bác đã nằm xuống võng ngủ thiếp đi, em vẫn ngồi đó.

Qua câu chuyện đó em nhìn lại cuộc đời bác Vi Văn Chiêu có thể thấy đó là một cuộc đời gắn bó trọn vẹn với cách mạng, với nhân dân và tổ quốc. Từ người lính trẻ nơi rừng sâu núi cao biên giới, đến người cán bộ tận tụy sau hòa bình bác luôn sống mẫu mực, nuôi dạy con cháu trưởng thành, xây dựng gia đình hạnh phúc và góp phần giữ gìn truyền thống tốt đẹp của quê hương. Câu chuyện của bác là minh chứng sống động cho “Thời hoa lửa”, nơi những con người bình dị đã viết lên lịch sử bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần cống hiến không mệt mỏi. Qua câu chuyện ấy, em hiểu ra rằng hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu của các thế hệ đi trước. Là thế hệ trẻ được sống trong hòa bình, chúng ta cũng phải trân trọng quá khứ, biết ơn những người như bác vì đã cống hiến. Học tập, rèn luyện đạo đức sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối và giữ gìn ngọn lửa truyền thống ấy. “Thời hoa lửa” đã đi xa nhưng câu chuyện về bác Vi Văn Chiêu sẽ còn mãi như ngọn lửa soi sáng con đường của các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn