Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ông Y Ngông Niêk Đam - Một bàn tay không thể thiếu Tây Nguyên

Câu chuyện thật về ông Y Ngông Niê Kđăm trong những ngày đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi ông cùng ông Ksor Ní từ Tây Nguyên ra Hà Nội và được Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp, căn dặn về độc lập, đoàn kết dân tộc và vị trí không thể tách rời của Tây Nguyên trong nước Việt Nam thống nhất.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 2 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của những người con Tây Nguyên từng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một câu chuyện được nhắc lại nhiều lần với niềm xúc động sâu xa. Đó là câu chuyện về cuộc gặp đầu tháng 6 năm 1946 giữa Bác Hồ với hai người con của núi rừng Tây Nguyên: ông Ksor Ní, người Gia Rai, và ông Y Ngông Niê Kđăm, người Ê Đê.

Khi ấy, đất nước vừa giành được độc lập chưa lâu. Niềm vui Cách mạng Tháng Tám còn mới, nhưng hiểm nguy đã dồn dập kéo đến. Thực dân Pháp trở lại xâm lược. Ở Tây Nguyên, tình hình càng nặng nề. Buôn làng vừa thoát khỏi thân phận nô lệ chưa được bao lâu thì chiến tranh lại ập xuống. Nhiều vùng bị Pháp đánh chiếm, đồng bào lo lắng, cán bộ cách mạng phải vừa giữ chính quyền non trẻ, vừa vận động nhân dân, vừa tìm đường liên lạc với Trung ương.

Y Ngông Niê Kđăm lúc ấy là một trí thức trẻ người Ê Đê, mới ngoài hai mươi tuổi nhưng đã sớm tham gia cách mạng. Ông từng học ở Buôn Ma Thuột, Quy Nhơn, rồi học y sĩ ở Sài Gòn. Trở về Đắk Lắk, ông tham gia phong trào thanh niên yêu nước, tham gia Việt Minh, vận động Tổng khởi nghĩa. Tháng 8 năm 1945, ông là một trong những người tham gia chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Đắk Lắk. Đến cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I, mang theo tiếng nói của đồng bào Ê Đê và Tây Nguyên ra với Quốc hội của nước Việt Nam mới.

Nhưng làm đại biểu của một vùng đất đang bị chiến tranh đe dọa không phải là niềm vui đơn giản. Trong lòng ông và những người từ Tây Nguyên ra Bắc khi ấy có niềm tự hào, nhưng cũng có bao nỗi lo. Pháp đã đánh chiếm nhiều nơi. Chúng tuyên truyền rằng Tây Nguyên đã nằm trong tay chúng, rằng nhân dân Tây Nguyên vui mừng khi quân Pháp trở lại. Những lời xuyên tạc ấy khiến những người con Tây Nguyên đau lòng và phẫn nộ.

Ông Ksor Ní sau này kể lại rằng khi nghe đài Pháp nói sai sự thật về Tây Nguyên, ông tức giận không chịu được. Ông viết một bài bằng tiếng Pháp đăng trên báo “Le Peuple”, phản đối luận điệu của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Nguyên đoàn kết đánh đuổi thực dân. Bác Hồ đọc được bài báo ấy. Sau đó, Bác cho mời Ksor Ní và Y Ngông Niê Kđăm đến gặp.

Nhận được giấy mời của Bác, hai người vừa mừng, vừa lo. Mừng vì được gặp vị Chủ tịch nước mà đồng bào Tây Nguyên kính yêu, người đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lo vì không biết Bác gọi gặp để hỏi điều gì, trong khi tình hình Tây Nguyên đang rất rối ren, giặc Pháp đã quay lại, đồng bào còn nghèo khổ, cán bộ trẻ còn ít kinh nghiệm.

Trong phòng làm việc của Bác, không khí căng thẳng trong lòng họ dần tan đi. Bác tiếp hai người rất thân mật. Bác hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm tình hình đồng bào Tây Nguyên, hỏi về đời sống, về tâm trạng của nhân dân khi giặc Pháp quay lại. Với Y Ngông Niê Kđăm và Ksor Ní, đó không phải chỉ là cuộc gặp với người đứng đầu Nhà nước. Đó là giây phút những người con của đại ngàn được nói trực tiếp với Bác về nỗi lo của quê hương mình.

Y Ngông thưa với Bác rằng giặc Pháp đã đánh chiếm Tây Nguyên, đồng bào buồn lắm, lo lắm. Câu nói ấy rất giản dị, nhưng chứa trong đó nỗi đau của cả một vùng đất. “Buồn” vì nền độc lập vừa giành được đã bị đe dọa. “Lo” vì buôn làng, rẫy nương, người già, trẻ nhỏ lại đứng trước nguy cơ bị giày xéo. “Lo” vì Tây Nguyên xa Trung ương, đường sá cách trở, tin tức khó khăn, không biết cuộc kháng chiến phía trước sẽ thế nào.

Ông Ksor Ní hỏi tiếp Bác rằng giặc Pháp đã chiếm Tây Nguyên, vậy chúng ta có đánh đuổi giặc Pháp để lấy lại Tây Nguyên không. Câu hỏi ấy là câu hỏi của những người trẻ đang mang trong lòng niềm tin vào độc lập, nhưng cũng cần một lời khẳng định từ Bác để về nói lại với đồng bào. Với đồng bào Tây Nguyên khi ấy, điều quan trọng không chỉ là có súng, có gạo, có đường dây liên lạc. Điều quan trọng còn là biết rằng mình không bị bỏ lại, rằng Tây Nguyên là một phần máu thịt của nước Việt Nam.

Bác Hồ trả lời dứt khoát rằng có. Bác nói Tây Nguyên là một bộ phận của Việt Nam; nếu Việt Nam độc lập thì Tây Nguyên cũng phải độc lập; nếu Tây Nguyên bị giặc Pháp chiếm đóng thì chúng ta phải tiếp tục đánh giặc Pháp để giải phóng Tây Nguyên, có như vậy Việt Nam mới độc lập hoàn toàn.

Rồi Bác xòe bàn tay phải ra trước mặt hai người. Bác chỉ vào từng ngón tay và nói đại ý rằng một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón; nếu thiếu một ngón thì bàn tay không còn hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau. Nước Việt Nam cũng vậy. Tây Nguyên là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Cả nước độc lập mà Tây Nguyên chưa độc lập thì nền độc lập ấy chưa trọn vẹn.

Hình ảnh bàn tay của Bác trở thành một ký ức rất sâu. Đối với Y Ngông Niê Kđăm, người trí thức Ê Đê từ núi rừng Đắk Lắk ra Hà Nội, lời căn dặn ấy không phải một khẩu hiệu chính trị xa xôi. Nó là sự xác nhận thiêng liêng rằng đồng bào Tây Nguyên, dù ở xa Thủ đô, dù khác tiếng nói, khác phong tục, vẫn là một phần không thể thiếu của Tổ quốc. Tây Nguyên không đứng ngoài Việt Nam. Tây Nguyên không bị quên lãng. Tây Nguyên đau thì cả nước đau; Tây Nguyên mất thì độc lập của Việt Nam chưa thể trọn vẹn.

Cuối buổi gặp, Bác căn dặn hai người phải cố gắng học tập, công tác tốt, góp phần đánh thắng giặc Pháp để Việt Nam mau giải phóng và độc lập hoàn toàn. Với Y Ngông, lời dặn ấy đi theo suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Từ một đại biểu Quốc hội trẻ tuổi của khóa I, ông tiếp tục gắn bó với công tác dân tộc, giáo dục, chính quyền và Quốc hội. Sau này, ông giữ nhiều cương vị quan trọng, nhưng trong sâu thẳm, hình ảnh Bác xòe bàn tay nói về Tây Nguyên vẫn là một điểm tựa tinh thần đặc biệt.

Điều làm câu chuyện này xúc động là nó không có tiếng súng, không có bom đạn, nhưng lại diễn ra trong thời điểm chiến tranh đang trở lại. Nó là câu chuyện của niềm tin trước khi bước vào những năm kháng chiến dài lâu. Một bên là những người con Tây Nguyên trẻ tuổi, mang theo nỗi lo của buôn làng. Một bên là Bác Hồ, người nhìn thấy rất rõ rằng muốn giữ nền độc lập non trẻ thì phải giữ bằng được khối đoàn kết của tất cả các dân tộc, từ đồng bằng đến miền núi, từ miền Bắc đến miền Nam, từ Kinh đến Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, M’nông, Xơ Đăng và mọi cộng đồng trên dải đất Việt Nam.

Sau cuộc gặp ấy, những lời Bác dặn được các nhân chứng nhắc lại cho đồng đội, cho cán bộ và đồng bào Tây Nguyên. Nó trở thành lời khẳng định để người Tây Nguyên thêm vững lòng đi theo cách mạng: đất nước này là của chung, độc lập này là của chung, cuộc kháng chiến này cũng là của chung. Mỗi buôn làng bám đất, mỗi người dân nuôi giấu cán bộ, mỗi thanh niên lên đường, mỗi người trí thức như Y Ngông Niê Kđăm đem tiếng nói Tây Nguyên đến Quốc hội đều góp vào bàn tay chung của Tổ quốc.

Nhiều năm sau, khi nhìn lại cuộc đời Y Ngông Niê Kđăm, người ta nhớ đến ông như một đại biểu Quốc hội chín khóa liên tiếp, một nhà giáo, một nhà chính trị, một cán bộ dân tộc tiêu biểu của Tây Nguyên. Nhưng trong dòng chảy dài ấy, cuộc gặp Bác Hồ năm 1946 vẫn là một lát cắt đặc biệt. Nó cho thấy điểm khởi đầu của một niềm tin: người Ê Đê, người Gia Rai và các dân tộc Tây Nguyên không chỉ là đối tượng được nói đến trong chính sách, mà là những người trực tiếp bước vào lịch sử, trực tiếp đối thoại với Trung ương, trực tiếp mang tâm tư của núi rừng đến với Bác Hồ và đất nước.

Câu chuyện “Một bàn tay không thể thiếu Tây Nguyên” vì vậy không chỉ kể về Y Ngông Niê Kđăm, cũng không chỉ kể về một lần gặp Bác. Đó là câu chuyện về sự gắn bó máu thịt giữa Tây Nguyên và nước Việt Nam thống nhất. Giữa những ngày độc lập còn non trẻ, khi giặc Pháp đang quay lại, lời Bác đã giúp những người con Tây Nguyên hiểu rằng quê hương mình không đơn độc. Từ hình ảnh một bàn tay có đủ năm ngón, họ mang về đại ngàn một niềm tin bền bỉ: nếu Tây Nguyên còn đau, cả nước còn đau; nếu Tây Nguyên chưa được giải phóng, độc lập của Việt Nam chưa thể trọn vẹn.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ CAND và Ban Nội chính Tỉnh ủy Lâm Đồng: ông Ksor Ní hồi ức rằng đầu tháng 6/1946, ông cùng Y Ngông Niê Kđăm, người Ê Đê, được Bác Hồ mời gặp; tại cuộc gặp, Y Ngông nói với Bác về việc Pháp đánh chiếm Tây Nguyên và nỗi lo của đồng bào, còn Bác dùng hình ảnh bàn tay năm ngón để khẳng định Tây Nguyên là bộ phận không thể tách rời của Việt Nam. Thông tin thân thế Y Ngông Niê Kđăm được đối chiếu từ nguồn địa phương và báo chí chính thống: ông sinh năm 1922, mất năm 2001, là người Ê Đê ở buôn Ea Sút, Cư M’gar, Đắk Lắk; tháng 8/1945 tham gia chính quyền cách mạng tỉnh Đắk Lắk; năm 1946 trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I và sau này là đại biểu Quốc hội chín khóa liên tiếp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Ông Y Ngông Niêk Đam - Một bàn tay không thể thiếu Tây Nguyên | Câu chuyện thời hoa lửa