Bài viết

Pác Bó – Cao Bằng và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về văn hóa

Pác Bó – Cao Bằng và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về văn hóa

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Pác Bó – Cao Bằng và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về văn hóa

Mùa xuân Tân Tỵ 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Cao Bằng và chọn Pác Bó làm “đại bản doanh” cách mạng. Ở Pác Bó, Người đã sống những năm tháng vô cùng khó khăn, thiếu thốn với “cháo bẹ, rau măng” nhưng với cảnh núi rừng hùng vĩ của Pác Bó – mảnh đất tự do đầu tiên của Tổ quốc và đặc biệt là tinh thần, tình cảm cách mạng của đồng bào các dân tộc nơi đây, cảm hứng thơ đầu tiên đã đến với Người. Chính vì vậy, khi nhắc đến dấu ấn văn hóa in đậm nhất trong tâm hồn người Việt Nam khi Hồ Chí Minh về đến Pác Bó trước hết phải kể đến hai bài thơ có tiêu đề “Pác Bó Hùng vĩ” và bài “Tức cảnh Pác Bó” – hai sáng tác rất đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật.

Non xa xa, nước xa xa.

Nào phải thênh thang mới gọi là.

Đây suối Lênin, kia núi Mác.

Hai tay xây dựng một sơn hà.

(Pác Bó hùng vĩ)

 Nếu Pác Bó hùng vĩ là bức tranh chung của non sông, cảnh vật, là cái nền vững chắc tạo lập và làm cơ sở xây dựng phong trào cách mạng thì Tức cảnh Pác Bó là những hình ảnh hoạt động cụ thể của người chiến sĩ cách mạng trong một tư thế chủ động, rất ung dung, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời Cách mạng thật là sang” (Tức cảnh Pác Bó)(1) Qua lời thơ, những gian khổ được cảm thụ như nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và nếp sống giản dị “cháo bẹ, rau măng” không hề làm giảm sút đến ý chí và tinh thần làm việc của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. Chính trong thời kỳ này, Người tiến hành những hoạt động cách mạng sôi nổi, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Người mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, trực tiếp bắt tay thực hiện chương trình thí điểm của Việt Minh, tổ chức các Hội Cứu quốc.

Đặc biệt, tại Pác Bó, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5 – 1941) – Hội nghị đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Cách mạng Việt Nam. Ngay sau việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám và Mặt trận Việt Minh ra đời, ngày 06-6-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết thư Kính cáo đồng bào gửi toàn thể dân chúng, mở đầu bằng những lời kêu gọi tâm huyết:

“Hỡi các bậc phụ huynh!

Hỡi các bậc hiền nhân, chí sĩ!

Hỡi các bạn, sĩ, nông, công, thương!”

Người chỉ rõ hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng…”. Cuối thư, Người kêu gọi:

“Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!”

Thế giới cách mạng thành công muôn năm!”(2) Sau bức thư gửi đồng bào, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo bài diễn ca “mười chính sách của Việt Minh” để tiếp tục triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám. Bằng lối viết văn vần ngắn gọn, súc tích, Người chỉ ra mục tiêu đấu tranh của Việt Minh:“Quyết làm cho nước non này -Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”.

Nêu rõ vai trò to lớn của mười chính sách, Người viết: “Có mười chính sách bày ra – Một là ích nước, hai là lợi dân”. Với 46 câu thơ lục bát, bài diễn ca đã trình bày đúng những nội dung cơ bản về chính sách của Việt Minh về chính trị, về kinh tế, về văn hóa giáo dục, chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân nhưng tập trung nhiều vào chính sách xã hội, việc quyền xóa bỏ “bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân”, thực hiện quyền tự do cho nhân dân được “hội hè, tín ngưỡng, báo chương, họp hành, đi lại…” và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân… Diễn ca không nhắc đến chính sách kinh tế, ngoại giao. Đó chính là một sự tinh tế đến hợp lý của tác giả. Bởi tài liệu này chủ yếu để tuyên truyền giáo dục nhân dân, cho nên những vấn đề nêu ra phải cụ thể, thiết thực với đồng bào.

Trong thời gian tại Pác Bó – Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch sách Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên xô từ tiếng Nga sang tiếng Việt để phổ biến kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô cho cán bộ và nhân dân Việt Nam hiểu thêm và học tập. Cuốn sách này được Bác dịch từ lúc còn ở Trung Quốc và khi về đến Cao Bằng, Người dịch tiếp để làm tài liệu học tập cho cán bộ ta. Tài liệu đó có ích rất nhiều với việc bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ ta về xây dựng Đảng và phương pháp tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng.

Những năm tháng ở Pác Bó cũng là quãng thời gian, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh từng bước hoàn chỉnh qua việc Người nghiên cứu, biên soạn các trước tác quân sự đầu tiên. Tháng 11 – 1941, sau khi quyết định thành lập đội vũ trang đầu tiên của Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện cho họ. Ông Lê Quảng Ba, một thành viên của lớp huấn luyện kể lại: “Đội chúng tôi được chăm lo rất chu đáo.

Bác biên soạn “Mười điều kỷ luật” và “Chiến thuật cơ bản của du kích” cho chúng tôi học tập. Người còn đích thân tham gia việc huấn luyện”(3).

Cùng với những tác phẩm gắn với chính trị của Đảng, của Dân tộc, trên “bàn đá chông chênh”, Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách “Cách đánh du kích” gồm 13 chương, sau khi nêu rõ mục đích chính trị, hướng dẫn cách thức tổ chức, từ chương III đến chương XII tập trung vào việc chỉ đạo nghệ thuật du kích chiến tranh. Mỗi chương, mỗi cách đánh đều có sự hướng dẫn sâu sắc, cụ thể, khiến cuốn sách là cả một chương trình huấn luyện, là cẩm nang cho các nhà lãnh đạo chiến tranh du kích và cho từng du kích quân. Tác phẩm được phổ biến trong các đoàn thể cách mạng thời kỳ 1941 – 1945. Tháng 5 – 1944, “Cách đánh du kích” được Tổng bộ Việt Minh xuất bản và phát hành rộng rãi, ngoài bìa sách ghi “Chiến thuật du kích”. Cuốn sách được dùng làm tài liệu huấn luyện tại các trường quân – chính ở Việt Bắc trong những ngày chuẩn bị cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Lán Khuổi Nậm, Pác Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng – nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Để nghiên cứu và hiểu biết thêm những kinh nghiệm quân sự Trung Quốc đồng thời để làm tài liệu nghiên cứu cho cán bộ ta trong căn cứ cách mạng, với vốn chữ Hán uyên thâm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dịch cuốn “Phép dùng binh của ông Tôn Tử’’ từ chữ Hán cổ sang tiếng Việt. Người nhận định: “Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh ra hơn 2000 năm trước. Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên cứu. Vì phép ông Tôn Tử tuy đã rất lâu đời nhưng những nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng”(4). Tuy nhiên, đáng chú ý là, đối với những tài liệu quân sự thời cổ đại Trung Quốc, Người không dịch “nguyên xi” mà chọn lọc nội dung phù hợp với Việt Nam, kết hợp với kinh nghiệm chiến tranh hiện đại để các chiến sĩ ta áp dụng có hiệu quả trong chiến đấu. Chính vì vậy, Người đã tóm lược pho binh thư nổi tiếng thời Xuân Thu Trung Quốc thành một cuốn sách nhỏ bỏ túi vẻn vẹn có 74 trang mà vẫn nêu được cái “chất”, cái “thần” của “Tôn Tử Binh Pháp” kèm theo những lời bình xác đáng. Người còn viết tài liệu “Cách huấn luyện cán bộ của ông Khổng Minh” giới thiệu kinh nghiệm khiển tướng của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc; tác phẩm “Kinh nghiệm du kích Tàu” nêu một số trận đánh du kích tiêu biểu của nhân dân Trung Quốc chống quân xâm lược Nhật; “Kinh nghiệm du kích Nga”, “Kinh nghiệm du kích Pháp”… Có thể nói, chỉ trong một thời gian ngắn, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn mọi điều kiện, Hồ Chí Minh đã làm việc với một cường độ không ngờ, biên soạn những trước tác quân sự làm tiền đề tư tưởng, lý luận cho việc xây dựng nền khoa học và nghệ thuật quân sự của cách mạng Việt Nam.

Đồng thời với việc biên soạn tài liệu huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo Việt Nam độc lập và cho đến trước khi ra nước ngoài (8 – 1942), Người trực tiếp chỉ đạo, viết bài, duyệt bài có khi lấy tin và in báo.

Mục đích của báo Việt Nam độc lập như Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”(5). Những bài viết của Người thường là thơ và có tranh minh họa đều nhằm vào việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của mỗi người. Không chỉ là những lời kêu gọi mạnh mẽ, thiết tha, Người đã suy nghĩ và sáng tạo nhiều hình tượng thơ độc đáo, nhiều liên tưởng đẹp đẽ để thể hiện tư tưởng đoàn kết là sức mạnh, qua các bài thơ Ca sợi chỉ, Con cáo và tổ ong, Hòn đá,… Cho nên, những hình ảnh bông hoa, sợi chỉ, tấm vải, con cáo, tổ ong, hòn đá… đều gần gũi, trực tiếp với đời sống hàng ngày của quần chúng nhân dân, những người làm nên sức mạnh chủ yếu của khối đoàn kết và rất dễ để liên tưởng, nhận thức chân lý.

Điều đó một lần nữa lại cho thấy phương pháp tuyên truyền của Hồ Chí Minh đã đạt đến nghệ thuật tuyệt vời của việc đi sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn mỗi người dân: “đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết gì, nói gì cũng thấm thía với họ”. Một người dân không biết chữ, với trình độ dân trí vừa phải (có thể là thấp) song nghe qua một vài lần là có thể nhớ ngay, thuộc ngay được. Đây chính là những dấu ấn văn hóa chủ thể Hồ Chí Minh không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam. Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất dù ở bất kỳ cương vị nào, người chiến sĩ cách mạng, người tù, người lãnh đạo, nhà văn hoá, nhà ngoại giao, vị tổng chỉ huy hay là một vị chính khách nổi tiếng, thì vẫn luôn hiển hiện một Hồ Chí Minh – biểu tượng của văn hoá, cốt cách, nhân cách, trí tuệ và tâm hồn Việt. Điều đó đã nói lên một phần nguyên nhân tại sao Nguyễn Ái Quốc lại huy động đoàn kết được đông đảo lực lượng nhân dân để khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cả trong những giai đoạn cách mạng sau này.

Bên cạnh những vần thơ đó, Pác Bó, Cao Bằng còn được đón nhận một bài ca của Hồ Chí Minh viết về lịch sử nước ta từ thời vua Hùng dựng nước đến năm 1945. Đó là tác phẩm “Lịch sử nước ta” xuất bản lần đầu vào tháng 2 – 1942, do Việt Minh truyên truyền bộ ấn hành. Tác giả Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên những quan điểm mới có tính nguyên tắc chỉ đạo làm phong phú thêm kho tàng tư tưởng lý luận của Đảng. Người đã khái quát và coi lịch sử là một nguồn tư liệu vô giá, là động lực góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bức tranh lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta đã được Người chọn lọc, giới thiệu, khái quát một cách chính xác thông qua những nhân vật, những sự kiện lịch sử chân thực, khách quan, và được chia 3 giai đoạn: Giai đoạn từ nguồn gốc đến năm 1858; Giai đoạn từ lúc thực dân Pháp sang xâm lược nước ta đến 1919; Giai đoạn từ năm 1919 đến 1941 (Việt Minh ra đời). Câu đầu tiên của Diễn ca, Người nêu rõ: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”… và Người chọn thơ lục bát làm phương tiện thể hiện và khéo léo chuyển tải kiến thức lịch sử cơ bản đến người dân (vì khi đó hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và đói nghèo) thông qua 208 câu lục bát dung dị, dễ nhớ và dễ thuộc. Qua đó nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử – như Bác Hồ đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm: “Dân ta xin nhớ chữ đồng/ Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”(6). Chính niềm tin vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân chắc chắn đưa cuộc đấu tranh đến thành công, nên Bác đã tiên đoán: “1945 -Việt Nam độc lập!”.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc, đi nhiều nước, tiếp xúc với nhiều người, trải qua những hoạt động quốc tế sôi nổi, mang tầm thời đại, lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Pác Bó, Cao Bằng giản dị trong bộ quần áo chàm giống như một ông già người Nùng: “Từ trang phục đến lời nói, việc làm. Lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng… Bác hòa hợp với tất cả mọi người. Không thấy một nét gì khác lạ, cách biệt, ở một người vốn là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã từng dự Đại hội Tua, từng tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới”(7). Chỉ có khoảng hơn một năm hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng với bao khó khăn thiếu thốn và bộn bề công việc vì nước vì dân, thế nhưng vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh của chúng ta đã tranh thủ thời gian, bằng cả sức lực và trí tuệ của mình để viết, để dịch các tác phẩm thơ, ca phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đặc biệt của vận động giải phóng dân tộc. Những sản phẩm lịch sử văn hóa đó của Hồ Chí Minh đã làm nên những dấu ấn đậm nét cho lịch sử Việt Nam nói chung và Cao Bằng nói riêng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn