Pác Bó đón Bác trở về sau 30 năm bôn ba hải ngoại
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, đồng bào bị bóc lột, lao động khổ sở và chứng kiến phong trào yêu nước của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, liên tục nhưng do thiếu đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn nên không giành được thắng lợi. Là người giàu lòng yêu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm hình thành khát vọng, ấp ủ hoài bão lớn lao, đó là tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, đồng bào bị bóc lột, lao động khổ sở và chứng kiến phong trào yêu nước của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, liên tục nhưng do thiếu đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn nên không giành được thắng lợi. Là người giàu lòng yêu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm hình thành khát vọng, ấp ủ hoài bão lớn lao, đó là tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.
Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng:"Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu" (1). Trong suốt 30 năm đó, Người đã tiếp thu tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin, tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc là phải đi theo cách mạng vô sản.
Nếu như Bến cảng Nhà Rồng là nơi Người ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911 thì mảnh đất Pác Bó - Cao Bằng được vinh dự là nơi đón Người trở về sau 30 năm xa Tổ quốc. Đây là niềm tự hào của tỉnh Cao Bằng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để về nước hoạt động và xây dựng căn cứ địa cách mạng là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu. Đây không phải sự lựa chọn tình cờ, ngẫu nhiên mà là một sự tính toán kỹ, vì điểm "đứng chân" đầu tiên hết sức quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển về sau của cách mạng.
Theo suốt chiều dài lịch sử, đến cuối năm 1940, Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Văn Thụ tới Tĩnh Tây (Trung Quốc) tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc báo cáo tình hình Đảng và phong trào cách mạng trong nước, việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ Tám và đề nghị với Người về nước theo hướng Cao Bằng. Chọn Cao Bằng là vì trình độ giác ngộ của nhân dân tương đối cao và cán bộ khá vững vàng. Lời đề nghị của Hoàng Văn Thụ rất trùng khớp với suy nghĩ của Người. So với các tỉnh khác, Cao Bằng là một vùng đất có núi non hiểm trở, có chiều dài đường biên giới dài hơn 333 km tiếp giáp với Trung Quốc, vừa có đường bộ, đường thuỷ sang Trung Quốc nên thuận lợi cho giao thông liên lạc với quốc tế. Bên cạnh đó, Cao Bằng lại có các tuyến đường bộ đi xuống Lạng Sơn, Thái Nguyên, là địa bàn bọn thực dân khó kiểm soát. Từ Cao Bằng có thể mở rộng căn cứ địa cách mạng và phát triển ra cả nước. Đặc biệt, Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại là nơi sinh sống của hàng chục vạn đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô... Từ xưa đến nay đồng bào các dân tộc Cao Bằng vẫn luôn đoàn kết gắn bó với nhau. Từ ngày có Đảng, đồng bào các dân tộc một lòng đi theo Đảng, không ngừng đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Hơn nữa, Người được biết thông tin có 40 cán bộ người Cao Bằng đang hoạt động tại Tĩnh Tây (Trung Quốc). Nhận thấy đây là điều kiện thuận lợi cho việc gây dựng căn cứ địa cách mạng và phong trào Việt Minh. Người đã cử một số đồng chí liên lạc với số thanh niên, cán bộ, đảng viên người Cao Bằng và mở lớp huấn luyện đào tạo cấp tốc chọ họ nắm được tình hình, nhiệm vụ cách mạng, phương pháp hoạt động, cách thức gây dựng phong trào, và gấp rút chuẩn bị về nước. Ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc và cán bộ Trung ương cùng 40 thanh niên Cao Bằng chia làm ba nhóm về nước. Trưa ngày 28/01/1941, từ đỉnh núi Sam Khảo, Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Xa Tổ quốc suốt 30 năm trời tìm đường cứu nước, khi bước qua ranh giới Trung Quốc- Việt Nam tại cột mốc 108, Người không khỏi bồi hồi xúc động. Người lặng đi, lòng dâng trào cảm xúc trước cảnh quê hương đất nước.
Núi rừng Pác Bó nở trắng hoa Kim Anh đón người cha thân yêu của dân tộc. Trước đây, Pác Bó là vùng núi đất xen với núi đá, địa thế hiểm trở. Những chòm nhà của đồng bào Nùng nằm thưa thớt giữa những nương ngô trên sườn núi hay bên những thửa ruộng nhỏ dưới thung lũng đã mang đến cho Người tình quê hương ấm áp. Khung cảnh Pác Bó hiện ra trước mắt như một bức tranh thuỷ mặc. Hành trang của Người sau 30 năm bôn ba về nước chỉ vẻn vẹn có chiếc valy mây. Bên trong chiếc va ly đựng một chiếc máy chữ hiệu Hermec-baby, một vài bộ quần áo kaki. Đặc biệt, Người mang về nước một lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ đỏ được ví như ngọn đuốc sáng, soi lối chỉ đường cho cách mạng Việt Nam. Sau này, lá cờ được sử dụng trong hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tám tại Pác Bó. Người về nước đã mang về ánh sáng cho Đảng, đôi câu đối:
"Lãnh tụ trở về Nhật Nguyệt bừng lên trời Pác Bó
Anh hùng tụ lại tinh hoa rực sáng đất Cao Bằng" (2).
Thật đúng như vậy, đôi câu đối có ý nghĩa khi lãnh tụ trở về mảnh đất Pác Bó như được tiếp thêm ngọn lửa, thêm sức mạnh, bừng sáng lên như ánh mặt trăng, mặt trời, hào quang, tinh tuý nhất. Những anh hùng kiệt xuất hội tụ lại làm cho mảnh đất Pác Bó rực sáng lên. Mở ra một trang sử mới cho dân tộc, một làn gió mới, một con đường cứu nước, cứu dân, cho đất nước độc lập, tự do.
Thời gian đầu mới về nước, Người đến ở nhà ông Máy Lỳ - Một gia đình cơ sở cách mạng đáng tin cậy trong khu vực Pác Bó. Người về nước đúng vào ngày mùng 2 Tết Tân Tỵ. Người đã ăn bữa cơm và đón tết cổ truyền tại nhà ông Máy Lỳ. Bên mâm cỗ ngày tết, có đầy đủ thịt lợn, bánh trưng và cả một hũ rượu thơm nức, Người vô cùng xúc động. Sau 30 năm xa Tổ quốc nay được trở về đón tết cổ truyền với bà con, trong niềm không khí hân hoan phấn khởi đầu năm mới, xen lẫn hi vọng mong mọi điều tốt đẹp hơn, đất nước được tự do, ấm no, nhân dân hạnh phúc là điều mà Người vô cùng mong muốn.



