Bài viết

Phá bom mở đường tại Ngã ba Đồng Lộc

Quảng Ninh12/01/2026ĐOÀN PHƯỜNG QUANG HANH (ĐOÀN PHƯỜNG QUANG HANH)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngã ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua dãy Trường Sơn ở tỉnh Hà Tĩnh. Đây là một trong những điểm giao thông quan trọng trong chiến tranh. Vào năm 1968, tại nơi đây, chỉ tính từ tháng 3-10/1968, máy bay Mỹ đã ném xuống 43.600 quả bom lớn, trong đó có 6.000 quả bom từ trường và bom nổ chậm, hòng ngăn chặn tuyến đường huyết mạch của ta. Chính tại nơi đây, trong những ngày tháng chiến tranh ác liệt, 5 Đại đội Thanh niên xung phong, 3 Đại đội chủ lực giao thông vận tải và bộ phận công binh được Quân khu 4 tăng cường, ngày đêm phá bom, sửa đường thông xe cho xe tiến vào Nam. Trong lúc giặc Mỹ điên cuồng đánh phá, Đại đội 552, Tổng đội 55 Thanh niên xung phong tỉnh Hà Tĩnh được lệnh di chuyển gấp về ngã ba “tọa độ lửa” nhận nhiệm vụ đảm bảo giao thông thông suốt. Đại đội phải nằm 3 ngày đêm bên rìa một làng, sau đó mở được đường vào làng, từ đó mở đường qua bãi Dĩa ra ngã ba làm nhiệm vụ. Được sự hợp tác từ phía Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh và Ban Quản lý Khu di tích Thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đã có buổi gặp gỡ trò chuyện cùng các nhân chứng từng là cựu thanh niên xung phong sống và chiến đấu tại chiến trường Đồng Lộc năm xưa. Hiện Trung tâm đang bảo quản đĩa phim về buổi phỏng vấn trực tiếp hai nhân chứng: Ông Nguyễn Thế Linh - Nguyên Đại đội trưởng Đại đội Thanh niên xung phong 552 và Ông Nguyễn Đình Cứ - Nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội Công binh, Đại đội 552 - Tổng đội 55 Thanh niên xung phong Hà Tĩnh. Đĩa phim được ghi tại Hà Tĩnh, tháng 11 năm 2013. Ông Nguyễn Thế Linh, nguyên Đại đội trưởng Thanh niên xung phong 552 Hà Tĩnh cho biết, trong 196 ngày đêm làm nhiệm vụ bám trụ tại "tọa độ lửa" này, đơn vị của ông đã san lấp hơn 4.500 hố bom, sửa và làm mới 9.500m đường, ghép 250 mét khối đá làm cầu ngầm, làm gần 50 lần cầu vượt hố bom bằng 900m cầu,… Bên cạnh đó, đơn vị còn rà hơn 1.900 quả bom từ trường và bom nổ chậm. Trong quá trình làm việc đầy khẩn trương, nguy hiểm và gian khổ, toàn đơn vị ông đã phát huy 65 sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giúp nhiệm vụ được thực hiện nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn. Khi thực hiện nhiệm vụ, đơn vị ông có nhiều người bị thương và hy sinh, đáng ghi nhớ nhất là ngày 24/7, 10 cô của Tiểu đội 4 hy sinh cùng một lúc. Ngày 24/7/1968, máy bay Mỹ tập kích vào khu vực núi Dẻ 100 quả bom, trong đó có 2 quả đánh trúng đường. Đại đội TNXP 552 được giao nhiệm vụ trong 21 giờ, bằng bất cứ giá nào phải thông đường cho đoàn xe quan trọng vượt qua. Ban Chỉ huy Đại đội quyết định chia lực lượng nhỏ, nhanh chóng tiếp cận lấp hố bom, giải phóng mặt đường. Tiểu đội 4 do Võ Thị Tần chỉ huy được chọn làm nhiệm vụ trên. Cả tiểu đội có 16 chị em, tuổi đời còn rất trẻ, từ 17 - 22 tuổi. Khi nhận nhiệm vụ, trong tiểu đội có 4 đội viên đang trên đường công tác lấy dụng cụ, chặt gỗ và 2 đồng chí ốm không dậy được, 10 chị em còn lại ai cũng hăng hái xung phong làm nhiệm vụ, gồm: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Thị Hà, Dương Thị Xuân, Nguyễn Thị Xuân, Võ Thị Hợi. Các chị đều quê Hà Tĩnh. 10 cô gái TNXP đã hối hả, tất bật xúc đất, đẩy xe, san đường không hề ngừng nghỉ. Khối lượng công việc lớn, nhưng cuối cùng cũng chuẩn bị xong, chị em chỉ còn chèn đá đảm bảo tránh độ lún cho đường thì bất ngờ, một tốp máy bay Mỹ ập đến, trong khi chưa ai kịp vào hầm trú ẩn, cả 10 cô gái bị vùi lấp, vĩnh viễn nằm lại trên tuyến đường máu lửa. Còn ông Nguyễn Đình Cứ, nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội công binh, thì lại chia sẻ nhiều hơn về những nguy hiểm cũng như mưu trí của các đồng chí trong việc rà phá bom mìn, xử lý bom đạn. Sau mỗi lần bom địch đánh phá, mặt đường lại nham nhở hố bom, rất khó khăn cho xe qua lại. Khẩu hiệu “máu có thể chảy, tim có thể ngừng nhưng mạch máu giao thông không bao giờ tắt”, nhiều đêm các anh, các chị thanh niên xung phong phải mặc áo trắng làm hàng rào, cọc tiêu dẫn lối cho xe qua an toàn. Mưa bom, bão đạn không làm khuất phục ý chí anh hùng của lực lượng thanh niên xung phong. Thời điểm đó, phương tiện kỹ thuật còn rất thô sơ, nên công việc này đòi hỏi sự cẩn trọng, dũng cảm và nhanh chóng cũng như khéo léo của cá nhân từng người. Chính trong khó khăn, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật được Tiểu đội Công binh của ông phát huy hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ. Với khẩu hiệu “Địch đánh, ta sửa, ta đi”, các thanh niên xung phong Đại đội của các ông đã anh dũng, kiên cường và mưu trí vượt qua khó khăn, nguy hiểm để đảm bảo mạch nối giao thông chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong lời kể của mình, hai ông đều không quên những sự giúp đỡ từ phía nhân dân địa phương nơi đây. Nhân dân địa phương đã nhường nhà, nhường vườn để làm nơi giấu xe, giấu hàng, nơi cứu thương, có gia đình còn sẵn sàng dỡ nhà lấy ván lát đường chống lầy cho xe qua. Đồng thời, hai ông đều chia sẻ những trăn trở của một cựu thanh niên xung phong về việc giải quyết chế độ chính sách cho những đồng đội, thân nhân đồng đội, đồng chí của các ông. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng khi nghe lại lời kể của các ông, những người đã từng trực tiếp góp phần làm nên lịch sử, thế hệ trẻ ngày nay phần nào biết thêm về một Đồng Lộc hùng tráng, kiên cường, bất tử. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III sẽ bảo quản an toàn vĩnh viễn những thước phim, những hình ảnh, những câu chuyện của các ông, cũng như tích cực sưu tầm những tài liệu về các sự kiện lịch sử của dân tộc thông qua việc gặp gỡ, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử. Việc làm này có ý nghĩa to lớn góp phần cho nghiên cứu lịch sử cũng như giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay và mai sau./

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn