PHÁC THẢO CHÂN DUNG MỘT DU KÍCH XÃ
Có một danh tính “Du kích xã” mà tên tuổi gắn liền với cuộc kháng chiến 9 năm. Ở đó, không chỉ thấy chiến công lúc bấy giờ, mà mấy chục năm sau người ta vẫn tiếp tục nhận diện để khẳng định một bài học sâu sắc - bài học về chiến tranh nhân dân, cụ thể là, chiến tranh nhân dân vùng hậu địch. Danh tính du kích người Tày ấy, có tên là “Du kích Đại Lịch”, một tổ chức thuộc xã Đại Lịch (huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) - xã Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp.
Giở lại cuốn sách “Tỉnh Yên Bái - một thế kỷ 1900 - 2000" do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái xuất bản năm 2000. Tại trang 244, viết: “Ngày 02 tháng 10 năm 1947, địch (thực dân Pháp) từ Quang Huy (Sơn La) đánh sang Thượng Bằng La, nhưng chúng bị bộ đội chủ lực ta phục kích ở đèo Đao (đèo Lũng Lô) làm chúng bị chia cắt làm đôi. Một toán buộc phải rút về Quang Huy, và một toán khác đến đóng dã ngoại ở thôn Cao, xã Chấn Thịnh, chúng tổ chức cuộc tấn công sang Đại Lịch nhưng bị lực lượng du kích xã chặn đánh quyết liệt, buộc chúng phải rút về Vần Dọc”.
Như vậy, ngay từ ngày giờ đầu tiên quân Pháp xâm lược đặt chân đến đất Đại Lịch, chúng đã bị đánh bật, để rồi, suốt 5 năm sau đó (tháng 10/1947 đến tháng 10/1952) Đại Lịch luôn là cái gai khó nhổ trong đầu thực dân xâm lược ở Yên Bái mặc dù bốn bề quanh thung lũng lòng chảo này: Chấn Thịnh, Việt Hồng, Hưng Khánh, Tân Thịnh đều đã dầy đặc đồn bốt Pháp.
Có phải ngẫu nhiên những người dân thuần nông Đại Lịch bỗng chốc trở thành du kích đánh Pháp, đánh thắng Pháp và giữ vững mảnh đất được chọn làm vùng đệm chiến lược giữa tỉnh Yên Bái với dải đất miền Tây Tây Bắc: Khởi đầu có thể nhờ truyền thống chống ngoại xâm, sau đấy phải có sự chỉ đạo và một đường lối đúng.
Sách “Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân khu Tây Bắc 1945- 1954", viết về điều này: “Ngày 26 tháng 10 năm 1947 Thường vụ Quân khu X quyết định thành lập Ban Chính trị Tây Tiến do đồng chí Nguyễn Thế Y làm Trưởng ban. Ban có nhiệm vụ giúp Quân khu ủy chỉ đạo toàn diện các mặt cồng tác của hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai... Thời gian này, đồng chí Nguyễn Tấn Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái trực tiếp vào kiểm tra huyện Văn Chấn và xây dựng Đại Lịch thành căn cứ du kích” (Viện sử học- Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Tây Bắc. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003, trang 153- 184).
Tháng 8 năm 2012, tôi có may mắn được theo chân ông Hà Thiết Hùng, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn, về thăm lại Đại Lịch, nơi mà ông từng ở và hoạt động trong những năm 1947 - 1949 với tư cách phái viên của Huyện ủy Văn Chấn với Tỉnh ủy Yên Bái. Dừng chân trên nền đất đình làng Khe Liền (Đình đã bị Pháp đốt cuối năm 1948), nhìn lên khu rừng Đồng Lở- Phắc Nam, địa điểm hoạt động bí mật của Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến và Huyện Bộ, ông Hà Thiết Hùng nói với những người xung quanh: “Nếu lúc đó Đại Lịch mất vào tay Pháp thì tình hình sẽ vô cùng khó khăn”. Tại ngôi đình này, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tấn Phúc đã chủ trì hội nghị với cơ quan huyện Văn Chấn, đi đến các quyết định, trong đó có việc “khẩn trương tổ chức lại lực lượng du kích từ xã đến huyện, mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết chống các cuộc càn quét của địch” (Tỉnh Yên Bái- một thế kỷ - sách đã dẫn trang 246).
Chi bộ Đảng xã Đại Lịch thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1947 do đồng chí Đào Tiến Lộc làm Bí thư, đã nhanh chóng đón nhận chủ trương của Tỉnh ủy và Huyện ủy, Huyện bộ Việt Minh lập các Đội: nữ du kích, lão du kích, thiếu nhi du kích. Riêng đội du kích vũ trang (do Hoàng Minh Lưu làm Đội trưởng, Đào Tiến Lộc- Bí thư Chi bộ làm Chính trị viên), được liên hệ với bộ đội, mời người về huấn luyện: Nghị quyết Chi bộ nhấn mạnh: Xây dựng các công sự phục kích trên đường độc đạo, cài đặt bãi chông, bẫy đá. Huy động các loại vũ khí như súng kíp, súng săn, mìn gây nổ, giáo, mác, nỏ..., phát động toàn dân sẵn sàng đánh giặc! Cùng với tinh thần đánh Pháp trên đây, chi bộ và toàn Xã bộ Việt Minh đã cử một số Đảng viên trung kiên ra tranh các chức lý lịch để hoạt động cho ta, trong đó có Hoàng Văn Vinh, chiến sỹ du kích, xin từ chức Bí thư Đoàn thanh niên cứu quốc xã để tranh chức Phó lý trưởng, ông Vinh cùng ông Tuấn Ngai đã mật báo có cuộc hành quân càn quét của Pháp. Bí thư Chi bộ Đào Tiến Lộc và Chủ nhiệm xã bộ Việt Minh Phạm Quang Tích quyết định chỉ đạo đội Đội du kích vũ trang phục kích tại Đèo Din. Trận đánh do Hoàng Minh Lưu chỉ huy diễn ra trong mười lăm phút, ta diệt 6 tên trong đó có tên Pháp chỉ huy, chiến sĩ trẻ Hoàng Văn Thọ sau khi giật mìn, đã từ trên ta luy nhảy xuống cướp khẩu Bran nô rồi chạy vào rừng. Không may, bọn lính bắn đuổi, Hoàng Văn Thọ bị thương nặng, giặc bắt được chặt đầu treo lên gốc cây để uy hiếp. “Đây là trận đánh đầu tiên của du kích trong vùng địch hậu tại Yên Bái. Chiến thắng tuy không lớn nhưng đã động viên, khích lệ bộ đội, du kích vững vàng và tự tin chiến đấu”. (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân khu Tây Bắc, sách đã dẫn, trang 154).
Chiến thắng Đèo Din của du kích Đại Lịch 20/11/1947 đã gợi mở chủ trương. Sau trận đánh các phong trào: Toàn dân đánh giặc giữ làng, cướp súng giặc đánh giặc... được Huyện bộ Việt Minh phát động. Đầu tháng 12 năm 1947 các đội vũ trang 514 và 524 của Quân khu và tỉnh được tăng cường vào Văn Chấn hỗ trợ địa phương, tạo ra mạng lưới chiến tranh nhân dân rộng lớn khắp các xã trong vùng.
Giữa tháng 12/1947 cuộc hành quân lớn của Pháp từ đồn Đồng Bồ ra Đại Lịch với mục đích tiêu diệt cơ quan huyện, Chi bộ xã đã xin ý kiến chỉ huy Đội vũ trang 514 (Đội trưởng Trần Đại Khánh) một phương án thế chân kiềng được lập xong: Du kích Đại Lịch, Trung đội 76 du kích địa phương (tức quân của huyện) do Trung đội trưởng Hà Thiết Hùng chỉ huy, và Đại đội Kim Tiến (quân chủ lực tương đương Trung đội) do Kim Tiến phụ trách, phục kích tại bãi Chằm Lũng Bũm (Đại Lịch). Đại đội Kim Tiến nổ súng chặn đánh, Trung đội 76 tiếp viện hỗ trợ. Du kích Đại Lịch sau khi tạo trận địa, đã phối hợp với du kích Chấn Thịnh bao vây đồi rừng và đánh chặn hai đầu trục đường. Trận đánh kéo dài khoảng ba mươi phút. Kết quả ta diệt và bát sống 40 tên địch (xem: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, trang 95). Bia di tích “Chiến thắng Lũng Bũm” thiết kế mô phỏng một lọ hoa được trang trọng khánh thành ngày 16/12/2014 với sự có mặt của nhân dân, của Chủ tịch huyện Văn Chấn, lãnh đạo Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, và nhân chứng trận đánh- các cựu chiến binh Hà Thiết Hùng, Hoàng Văn Tỵ, Hoàng Văn Thuận. Văn bia ghi: “Trận Lũng Bũm khẳng định chủ trương phát động chiến tranh du kích, đánh giặc ngay trong hậu địch của Tỉnh ủy Yên Bái những năm đầu kháng chiến là đúng đắn và sáng tạo". Đây cũng là trận thắng đầu tiên trong nghệ thuật phối hợp giữa ba lực lượng: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, và du kích trên địa bàn Yên Bái mà rồi đây ta cần làm rõ. Tại lễ khánh thành, thiếu tướng Lý A Sáng, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu II, sau khi cắt băng, nói: Với các trận Đèo Din, Lũng Bũm, du kích Đại Lịch mãi là niềm tự hào của lức lượng vũ trang Quân khu ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
Hai trận đánh Pháp tiêu biểu ở Đèo Din, và Lũng Bũm đã mở ra một thế trận mới, thế trận chiến tranh nhân dân “cài răng lược” vùng nông thôn miền núi giữa ta với địch, giữa quân và dân, giữa quân chủ lực, quân địa phương (huyện, tỉnh) và du kích xã, làm cho quân Pháp ở Yên Bái chưa dám mạnh tay càn quét, tạo điều kiện củng cố địa bàn vùng đệm, giúp cho cán bộ, bộ đội của Quân khu, của tỉnh luồn sâu vào lòng địch, bám đất, bám dân, vận động quần chúng, vừa đánh giặc vừa sản xuất. Khống chế, cảm hóa những người hoang mang dao động, giữ vững trận tuyến để kháng chiến nhanh chóng phát triển vào miền Tây Tây Bắc. “Chỉ tính từ tháng 10 năm 1947 đến tháng 5 năm 1951, du kích Đại Lịch đã đánh 29 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 5 lính Pháp, 25 lính Ngụy, làm bị thương 40 tên khác, thu 6 khẩu súng trường, 2 khẩu súng máy và nhiều lựu đạn" (Truyền thống 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân xã Đại Lịch 1947-1997. Sách đã dẫn.Xuất bản tháng 12/1998, trang 54).
Thời gian chiến tranh ác liệt nhất trên đây của huyện Văn Chấn, nhân dân Đại Lịch gánh chịu tổn thất rất nặng nề: 47 người dân (trong đó có 18 du kích) bị sát hại, 142 ngôi nhà sàn và đình làng bị Pháp đốt cháy, gần 300 trâu bò bị chúng bắt đi, hàng trăm ha đồi rừng, lúa bị phá hủy. Đổi lại, Đại Lịch đứng vững, Pháp không lập nổi đồn bốt. Khu vực làm việc bí mật của cơ quan huyện Văn Chấn an toàn tuyệt đối. Đường dây liên lạc từ Đại Lịch giữa huyện và Tỉnh ủy Yên Bái luôn được thông suốt và nhanh chóng. Chi bộ Đại Lịch được Đảng bộ Liên khu X tặng danh hiệu “Chi bộ Đỏ”. Tên tuổi “Du kích Đại Lịch” như lá cờ đầu vùng địch hậu tác động rất lớn đến địa bàn toàn tỉnh Yên Bái và cả vùng Tây Bắc lúc bấy giờ, góp phần tích cực tạo nên một phong trào thi đua đánh giặc sôi động khắp các địa phương. Rất nhiều chiến sỹ chiến đấu quả cảm. Chỉ xin nhắc đến trong bài viết này một số tấm gương hy sinh oanh liệt: Du kích Hoàng Văn Vinh, điệp viên, bị địch bắt, tra tấn dã man, không chịu nhận mình là người của Việt Minh. Pháp đưa ra làng Vần xử tử công khai bằng cách chặt đầu. Liệt sỹ Hoàng Văn Vinh được quê hương suy tôn là “Người Anh hùng trong lòng dân”. Hoàng Văn Thọ, Đội trưởng Đội du kích thiếu nhi, đánh trận Đèo Din, giật mìn, diệt được Pháp, cướp được súng giặc, nhưng không kịp thoát. Giặc bắt chặt đầu. Năm 1998 Tỉnh Yên Bái và Quân khu II đề nghị, Liệt sỹ Hoàng Văn Thọ được Nhà nước Truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phạm Ngọc Tự, bị giặc bắt trong khi đi trinh sát, chúng tra tấn đòi khai báo về chủ nhiệm xã đội Việt Minh Phạm Quang Tích. Du kích Phạm Ngọc Tự phanh ngực áo quát to: “Việt Minh ở trong ngực tao!”. Phạm Ngọc Tự bị xử bắn tại suối Lao, Đồng Bồ. Xã đội trưởng Hoàng Văn Quang đi kiểm tra cơ sở bị phục kích, Hoàng Văn Quang dùng dao găm đâm hai tên lính bảo an làm chúng bị thương nặng, giặc nổ súng, Xã đội trưởng Quang hy sinh. Du kích Hoàng Văn Phổ bị chỉ điểm khai báo ông là Ủy viên ủy ban kháng chiến, Pháp phục bắt, chúng loan báo dân làng đến rồi cắt cổ ông ngay giữa làng Thanh Bồng. Hà Thị Hòa, đội nữ du kích trực tại cơ quan du kích huyện (huyện đội). Giặc bất ngờ càn đến, Hà Thị Hòa kịp đưa túi tài liệu lên rừng Phắc Nam, những loạt đạn vu vơ của giặc làm chị ngã gục ngay bên người chị dâu cùng làm nhiệm vụ. Ông Hoàng Văn Sương, Đội lão du kích canh ở chòi gác Khe Tú. Giặc càn, ông nổi mõ báo động. Giặc bắn dữ dội lên chòi gác, lão du kích Hoàng Văn Sương ngã xuống ngay trên sườn đồi nhà mình...
Du kích Đại Lịch, một thời như thế!
Tiếng nói tri ân
Tôi theo chân nhóm Văn nghệ sỹ về xã Đại Lịch anh hùng thắp nén hương tưởng niệm tại Nhà bia liệt sỹ và nhà lưu niệm Anh hùng liệt sỹ Hoàng Văn Thọ. Chúng tôi đến với các điểm dấu tích lịch sử mà nay trên nền đất thấm máu xưa đã hiển hiện những tấm bia xi măng ốp đỏ, với mẫu thiết kế rất “lịch sử” cũng rất “mỹ thuật”. Các Bia: Di tích trận đánh Đèo Din, Lán Gốc Hồng, Đình Bằng Là, Đình làng Khe Liền, Trường Sơ học Đại Lịch, Chiến thắng Lũng Bũm...! Hiếm có một xã miền núi dân tộc nào ở Yên Bái lại nhiều dấu tích kháng chiến, và tự mình xây cất được nhiều bia di tích như ở xã Đại Lịch, xem đó như một bài sử học sinh động, một việc làm tri ân với lớp cha anh. Chúng tôi gặp ở đây những cán bộ kháng chiến, những cựu binh du kích tóc bạc trắng: ông Hoàng Văn Tỵ, bà Hoàng Thị Thức, ông Hà Văn Tích, bà Hoàng Thị Mộc... chuyện một thời làm xúc động anh em văn nghệ sỹ.
Rời chân bia Di tích, chúng tôi lên thăm bà Hà Thị Thuần, cô thôn nữ Tày năm trước, nay đã ở tuổi 90 với 68 năm tuổi Đảng, một liên lạc viên trung kiên, khôn khéo của Huyện bộ Việt Minh Văn Chấn những năm 1947- 1950. Bà Hà Thị Thuần kể: “Nhà có bốn anh em, khi cấp trên có chủ trương lập các đội du kích, thanh niên xã đua nhau đăng ký, thế là cả bốn anh em tham gia. Sau đấy anh Tuất lên huyện, anh Chu vào bộ đội rồi hy sinh, chị Hòa bảo vệ Huyện bộ cũng hy sinh”. Tôi bùi ngùi tháp nén hương nơi ban thờ hai liệt sỹ và thân mẫu bà Thuần, cụ Hoàng Thị Phấn, một trong số 13 “Mẹ Việt Nam Anh hùng” của xã Đại Lịch.
Chiến tranh? Và một cuộc chiến Vệ quốc! Nhìn lại, có những điều vẫn chưa lý giải thỏa đáng? Chợt nhớ đến mấy câu thơ trong bài thơ: Ngày bố đi chiến dịch của Vi Hà - một nhà thơ Yên Bái:
Ý nghĩ bốn bề cứ đến trước, sau
Vì bố ở chiến trường, mẹ làm thay công việc
Em còn bé, nên em chưa hiểu hết
Khi cả nước lên đường, sức ở mỗi người dân.



