Bài viết

PHÁC THẢO CHÂN DUNG NHỮNG NGƯỜI LÍNH VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

Người lính tiễu phỉ Trần Hùng và sự nghiệp thơ ca Trước tiên nói đến ông Trần Hùng là phải nói đến là anh bộ đội Cụ Hồ, một cán bộ kiên cường của thời kỳ đánh Pháp, tiễu phỉ gian nan của một vùng Tây Bắc. Ông Trần Hùng sinh năm 1926, tại vùng chiên trũng Bình Lục – Hà Nam. Do lũ lụt, đói kém, cả gia đình đã phải bỏ quê tha phương cầu thực, cả nhà lang thang khắp rừng xanh núi đỏ, cuối cùng trụ lại tại đất Phúc Yên. Năm 1945, bố mẹ ông tham gia tự vệ giành chính quyền ở thị xã Phúc Yên, ông vào b

Lào Cai08/12/2025Đoàn Hữu Nam (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Kể từ tháng 11 năm 1947, năm giành được chính quyền từ tay Quốc dân Đảng đến năm 1959, Bát Xát có năm cuộc nổi phỉ, phỉ hóa toàn dân thì cả năm lần, bằng sự khôn khéo, bằng sức mạnh tổng hợp ta đều đánh tan bọn phỉ lấy lại cuộc sống yên bình cho nhân dân, trong đó có công lao đóng góp của người sĩ quan quân đội Trần Hùng.

Ông Trần Hùng xuất hiện rất muộn trên văn đàn. Khi đã tới cái tuổi mà thời gian và sự lão hóa mỗi ngày một rút kiệt sinh lực, đẩy con người vào cái thế “lão giả an tri” thì ông đã vượt lên khỏi sự nghiệt ngã của quy luật, vượt lên chính bản thân mình để dồn sức cho sự sáng tạo. Trong bốn năm liên tiếp ông đã ra đời 2 tập thơ, cùng với Nhà văn Đoàn Hữu Nam thực hiện hai cuốn hồi ký, đặc biệt tập thơ Tuổi 80 ra đời đã được bạn đọc hồ hởi đón nhận. Có thể nói Tuổi 80 là một tập thơ chiêm nghiệm. Trước Tuổi 80 ông Trần Hùng dường như chỉ mượn thơ để giải tỏa lòng mình, gửi gắm những day dứt, tâm sự của mình với những vùng đất ông đã từng gắn bó trong suốt những năm đánh Pháp, tiễu phỉ, trong đó có những địa danh, những người mà ông đã từng chia ngọt, sẻ bùi, sống chết bên nhau. Đến Tuổi 80 ông Trần Hùng - Nhà thơ Trần Hùng đã vượt qua chính mình để vươn tới sự chiêm nghiệm, kết tinh. Chiêm nghiệm, kết tinh ở đây không phải là sự dạy đời, cao đạo ta thường gặp, mà nó diễn ra tự nhiên, chân thật, gần gũi, là tâm trạng của một người trải qua gần một thế kỷ trước những cái mất, cái được của cuộc đời, của một người nặng tình, nặng nghĩa, một người gần cập bến sông mê... được thoát ra bằng thơ. Xin hãy thử đi cùng Tuổi 80 với tác giả. “Giữa một Lào Cai vừa lạ, vừa quen/ Ta bỗng thấy bâng khuâng muôn ngày cũ/ Những chiều leo dốc tìm em/ Những ngày cơm ngô, cơm sắn/ Những ngày mái tranh, vách nứa/ Những lo lắng thường ngày kéo thời gian dài ra...”. Những câu thơ trên không phải là tuyên ngôn, không phải là chính kiến, từ ngữ, ý tưởng trong thơ không phải mới lạ, không hay đến “gai người”, vậy mà người đọc, nhất là những người đã trải qua những ngày khốn khó của thời bao cấp không khỏi nao lòng. Cái nao lòng của người không lấy cái cái phồn hoa thực tại để trùm lên, che lấp cái quá khứ “khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng tình người gắn chặt tình người”, để rồi nhập vào, chia sẻ cùng nỗi đau của tác giả: “...Và hôm nay đi giữa hoàng hôn/ Lòng ta nao nao nghĩ về thành phố trẻ/ Nghĩ về em.../ Sao em không thể/ Trở về ôn cố tri tân” - (Nhặt trong chiều). Và đây: “...Chiều đông trời buốt giá/ Hoa lan rừng ngơ ngác ngóng sương rơi/ Đồi yên ngựa ngóng gió mùa ẩm ướt/ Mây song cõng đốt thời gian/ Ai nằm đây/ Mỏi mòn mắt đợi/ Mỏi mòn gió sương/ Mỏi mòn phảng phất/ Mầm cây, ngọn cỏ tri âm/ Ai nằm đây! Duyên nợ thời xa lắc.../ Chí trai gãy gánh ngang đường.../Hỡi người dưới mồ hãy yên lòng nguôi nghỉ/ Mảnh đất này đã ngập trong màu xanh./.” - (Bên mộ vô danh). Bài thơ không cầu kỳ câu chữ, không phát sáng lung linh, song với lối thơ mở, kết hợp lý, không thừa, không thiếu, có hậu, kết cấu chặt, đọc một lượt là hình dung ra ý đồ của tác giả, là hình dung, liên tưởng ngay tới cảnh Thúy Kiều tảo mộ, hình dung, liên tưởng tới một cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa, song cũng có thể liên tưởng tới một người lãng du xót xa tới người thiệt phận nằm lại ven đường...

Cũng như các loại hình văn học khác, mỗi bài thơ, mỗi tập thơ có con đường riêng để đứng được trong lòng bạn đọc, đứng được trước thời gian. Con đường vào lòng người của thơ ông Trần Hùng có thể coi từ một lối thơ tự sự, là chiêm nghiệm, hầu như thơ của ông thường kể chuyện đời, bày tỏ nỗi niềm nhắn gửi yêu thương. Những chuyện đời, những nỗi niềm đau đáu ấy cứ cứa ngọt vào lòng người, cứa ngọt vào sự khát khao, đua chen, vấp ngã ta gặp dọc đường đời. Và nữa, dẫu chưa tạo ra một phong cách riêng biệt, chưa thành những triết lý cao siêu, song dường như mỗi bài và những câu thơ trong mỗi bài đã gợi lên sự suy ngẫm, gợi lên tâm trạng của người trọng nghĩa, trọng tình. Xin lấy một số câu thơ trong tập làm minh chứng: ”Mềm như đá/ Cứng như bông/ Mơ, thật đẩy đưa cùng năm tháng/ Lòng thật với trời, với đất, với thơ...”, “Mắt đằng sau mắt kính/ Hồn với rượu lai rai/ Tóc bạc phơ quá nửa/ Lấn cấn xa đường xa...”, “Nôn nao yếm trắng ngày xưa/ Tinh khôi màu nắng chèo khua nát chiều/ Gió thu bừng thức phiêu diêu/ Suối ra sông, suối theo dòng chảy xuôi...”, “... Trôi về đâu... về đâu lá cỏ ngày xưa/ Đã qua mùa heo may một thời con gái/ Thời em trăng tròn mà ta thì e ngại/ Thơm hương chiều, xuân ngây ngất say....”, “... Khói hương rồi cũng về trời/ Chỉ còn cây với cõi người lao xao/ Nẻo về đổ bến phương nao/ Nghiêng chiều phố cổ rót vào sắc, không!” - Sắc không. Vâng, khói hương rồi cũng về trời, ông Trần Hùng cũng vậy, ông đã rời cõi tạm ở tuổi 96 song những nỗ lực tỏa sáng khi còn đóng góp được cho cuộc đời, cho thơ như ông mãi được mọi người trân trọng, lưu giữ và noi theo.

Nhà báo chiến sĩ cùng những vần thơ lưu lại trong lòng người Lào Cai

Ông Hồ Xuân Đoan sinh ngày 03 tháng 01 năm 1947, quê gốc: Quỳnh Lưu - Nghệ An song được sinh ra tại vùng đất Trung du Hạ Hòa - Phú Thọ. Ông xuất thân từ người lính, một nhà báo trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến cứu nước, song ẩn sâu trong một nhà báo, một nhà lý luận là một tâm hồn thi sĩ. Thơ ông thường ghi dấu nhiều miền của đất nước, cảm tưởng đi và viết là mạch nguồn chính của người cựu binh này.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, người đi không hẹn ngày về, cái vất vả, gian lao, cái sống cái chết kề nhau bắt buộc người lính phải dồn nén tình cảm của mình vào nội tâm để hướng về phía trước. Song trên chặng đường hành quân ác liệt ấy người lính là ông đã gặp biết bao hoàn cảnh, tâm trạng cần bày tỏ. Đó là cô gái cùng đồng tâm, đồng chí trao món quà tặng bất ngờ. Đó là những kỷ niệm với đồng đội không thể nào quên. Đó tình cảm ruột thịt với người em đã hi sinh trên chiến trường. Đó là tình yêu đôi lứa, là gợi lên tình cảm quê hương... Những tình cảm, cảm xúc ấy đã được ông trân trọng đưa vào thơ. Những bài thơ đầy chất lính, đầy trách nhiệm song không kém phần day dứt, bày tỏ lên sự ác liệt của chiến trường như: Tấm chăn hình mặt trời, Kỷ niệm chiến trường, Nhớ người em đã hi sinh, Gặp em ở Trường Sơn, Quá khứ chưa xa, Nhớ Bùi Nguyên Khiết là những ví dụ tiêu biểu.

Và nữa! Trong cuộc sống thời bình, khi ông rời quân ngũ, chuyển hẳn sang làm báo, cái đi nhiều, khám phá nhiều, viết nhiều đã cho ông rất nhiều cảm xúc, nhiều tích lũy. Trong thời gian này, cùng thăng hoa với nghề báo ông thăng hoa với thơ, nhất là khi tỉnh Lào Cai được tái lập, ông là một trong những người đầu tiên hăng hái đưa cả gia đình cùng dòng người trở về Lào Cai, đến với Lào Cai, quyết tâm xây dựng Lào Cai từ mảnh đất hoang tàn sau chiến tranh đang còn ẩn chứa nhiều bom mìn, cạm bẫy. Trong những năm tháng đầy tình người và cũng đầy trăn trở này ông đã sáng tác hàng trăm bài thơ. Thơ ông trong thời điểm này phản ánh rộng khắp các miền, nhiều ngõ ngách của đời sống, của phong cảnh trời ban cho người miền cao. Hơn thế nữa thơ ông không mang cảm xúc bi lụy, hờn giận, trách móc cuộc đời, thời cuộc khó khăn lúc đó, mà phơi phới niềm tin, hướng về ngày mai, hệt như tính cách và cuộc đời của ông vậy.

Và nữa! Trong cõi riêng riêng, trong đối diện với chính mình, ông nghiêm khắc nhìn lại quá khứ, nhìn ra nhân tình thế thái để rồi bật ra những thơ lay động lòng người, như: “Chưa cắt mình trong cơn sốt rét kinh niên/ Những đứa trẻ sinh ra trong dị dạng/ Đường làng vắng vang lên tiếng nạng/ Dấu chân tròn đè nặng tim ta...”-(Quá khứ chưa xa), hay: “... Bóng em đổ xuống dáng chiều/ Để rồi thấm thía bao điều trong tôi...” -Gửi các em bé lang thang cơ nhỡ,”... Sấm đánh thì thùng trên núi/ Chớp xòe diêm nhằng nhịt khắp trời/ Mưa rắc bột tưới nhuần mặt đất/ Đất vặn mình vào cuộc sinh sôi...”-Lộc núi.

Thơ thường là cái cớ để nhà thơ bộc lộ lòng mình, nhà thơ giống con tằm nhả tơ, phải thật lòng, phải tự rút ruột mới có những câu thơ mỗi khi đọc lên phải làm con tim thổn thức, ông Hồ Xuân Đoan đã có những câu thơ như thế. Khi lên thăm Đền Thượng - Đền thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo ông viết: “... Dẫu đứng giữa hai dòng trong đục/ Vẫn trinh nguyên vằng vặc trăng rằm/ Đường trăm ngả dẫn về cõi phúc/ Dưỡng nuôi mình ở nẻo tự tâm...”.

Trong vòng luân hồi nghiệp báo muốn phá tan được đám mây mờ ám (vô minh) che lấp mắt Phật dạy ta phải thành thực tu trong tám đạo, đó là: Tu đạo, suy xét, nói năng, làm việc, mưu sinh, mong tới, tưởng nhớ, ngẫm nghĩ, trong tám đạo ấy thì tu đạo là hàng đầu. Thi sĩ Hồ Xuân Đoan hiểu điều này, có thể ông không nhất trí sự giải thoát bằng cách gửi mình nơi cửa Phật nhưng ông thấu hiểu tư tưởng tu thân, Phật tại tâm: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”... Bởi thế ông mới có những câu thơ: “... Cúi đầu lạy thánh nhân trời đất/ Cho lòng con trong sáng như gương...”, hoặc: “Đường trăm ngả dẫn về cõi phúc/ Dưỡng nuôi mình ở nẻo tự tâm”.

Cũng với mạch nguồn ấy ông viết về người em thân yêu của mình hy sinh trên chiến trường Miền Nam: “... Đất nước rộng dài em nằm lại nơi đâu/ Giữa đất Chăm Pa hay rừng tràm biếc/ Mùa thu đã về lá vàng xao xác/ Em hãy về nương bóng mẹ chiều nay” - Nhớ người em đã hy sinh, hay: “...Em hóa thân trong tượng đài Trường Sơn bất tử/ Anh biết em không còn của riêng mình/ Nén nhang kia của ai vừa thắp/ Chân nhang đỏ hồng chảy máu trong tim” -Gặp em ở Trường Sơn.

Ngẫm về hai bài thơ này của ông Hồ Xuân Đoan tôi chợt nhớ tới những câu thơ đứt ruột của Nhà thơ Hữu Thỉnh trong bài thơ Phan Thiết có anh tôi - bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất trong sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Hữu Thỉnh: “Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ/ Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ/ Đất và trời Phan Thiết có anh tôi/ Chính ở đây anh thấy biển lần đầu/ Qua cửa hầm/ Sau những ngày vượt dốc/ Biển thì rộng căn hầm quá chật/ Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai”, “... Cánh rừng còn kia trận mạc còn kia/ Vài bước nữa thì tới đường số Một/ Vài bước nữa/ Thế mà/ Không thể khác/ Biển màu gì thăm thẳm lúa anh đi/ Em chưa hay cánh đồi ấy tên gì/ Nhưng em biết ngày ngày anh vẫn đứng/ Anh chưa biết đã tan cơn báo động/ Chưa biết tin nhà không nhận ra em/ Không nằm trong nghĩa trang/ Anh ở với đồi anh xanh cỏ...”

Và nữa! Trong chiến tranh thế giới thứ hai nhà thơ Raxun Gamzatốp có hai người em nằm lại ở chiến trường. Vượt lên trên nỗi đau mất mát, nhà thơ nổi tiếng của xứ Đaghextan đã viết về người em của mình, đồng thời viết về những người bạn của ông đã hi sinh vì đất nước:”... Họ nằm đâu, những người ra trận/ Chiến hào dọc ngang không thể kiếm tìm/ Mộ chí họ ở trăm nơi xa lắc/ Và nghĩa địa làng tôi cứ tự nối dài thêm.../ Nghĩa địa ấy trải tận bao vùng nóng lạnh/ Nắng gắt, tuyết rơi... dầu dãi quê người/ Và thiếu nữ của bao nhiêu dân tộc/ Thành kính mỗi ngày dâng những bó hoa tươi...

Nếu làm phương pháp so sánh thì hiệu quả những câu thơ trên của ba nhà thơ tương ứng nhau. Với tấm lòng thì dẫu ở trời Á hay trời Âu thì con người cũng: “sống vì mồ vì mả chứ ai vì cả bát cơm”. Ước vọng thường nhật mỗi đời người là sống thì được quây quần bên nhau, chết mong được sự chăm sóc của người thân. Song ở thời nào, đất nước nào cũng vậy, khi đất nước lâm nguy thì công dân sẵn sàng hi sinh để bảo vệ đất nước mình. Bởi vậy đất nước nào cũng có nghĩa địa làng dài theo nơi nằm xuống của người chiến binh, mới có những bà mẹ, ông bố, anh chị em chôn nỗi đau vào lòng khi biết con mình, em mình, chồng mình không nằm trong vòng tay của mình nữa. Từ nói lên một nỗi đau, nói lên sự tàn khốc của chiến tranh mà ba nhà thơ ở hai phương trời, họ khác nhau phong tục, cách xa nhau tuổi tác, nhưng ba trái tim cùng chung nỗi niềm đồng cảm, những vần thơ của họ có chung tiếng nói nên sự gặp nhau của họ trong thơ tự nhiên, bình dị như ba người cạnh nhà thổ lộ cùng nhau.

Ông Hồ Xuân Đoan là thế đó. Thơ của ông Hồ Xuân Đoan là thế đó. Rất tiếc là ông đã ra đi ở tuổi năm mươi hai đầy sung sức, song mấy mươi năm làm chiến sỹ, làm báo, làm thơ ông đã đi nhiều, hiểu nhiều, cảm nhận nhiều, và cũng từ đi nhiều, hiểu nhiều, viết nhiều đã làm nên thơ ông. Bốn tập thơ, gồm: Chân trời ước vọng, Nỗi nhớ ngày mưa, Lộc núi, Thơ cho một người ông tặng lại cho đời và những giải thưởng văn học, báo chí ông được trao tặng là minh chứng. Trước khi về cõi vĩnh hằng ông còn kịp làm xong cuốn sách Vận hội của mùa xuân dày dặn, trang trọng rồi mới yên lòng ra đi.

Về đức Nhân Khổng Tử dạy: Tận kỷ tri tâm (đối với ai cũng hết lòng mình), Suy kỷ cập nhân (suy mình ra mà ăn ở với đời), Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), cả đời Hồ Xuân Đoan đã theo đuổi đức Nhân, những trang viết, trang đời của ông đã minh chứng cho điều đó, chúc cho ông mãi yên lành nơi chín suối.

Người lính, Nhạc sĩ và những ca khúc để đời về hai miền đất Yên Bái, Lào Cai

Nhạc sĩ Phùng Chiến sinh năm 1947; quê quán Hạ Hòa - Phú Thọ. Năm 1966, giữa thời kỳ Đế Quốc Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc, lá thư tình nguyện nhập ngũ viết bằng máu của ông đã được cấp trên chấp nhận, ông được trở thành một trong những pháo thủ của quân chủng Phòng không Không quân, đã trải qua nhiều trận đánh máy bay ác liệt trên nhiều địa bàn chiến lược, trong đó có mảnh đất máu lửa Gio Linh - Vĩnh Linh - Quảng Trị. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, như: Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huy chương giải phóng hạng nhất, Danh hiệu dũng sỹ quyết thắng, Huân chương lao động hạng Ba, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, cùng nhiều Bằng khen, Giải thưởng về VHNT của tỉnh Lào Cai và các Hội chuyên ngành trung ương.

Nhạc sĩ Phùng Chiến đến với Hội VHNT Lào Cai, yêu, gắn bó với Hội từ sự tình cờ. Sau ngày thống nhất đất nước ông chuyển ngành về công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Hoàng Liên Sơn và được cử về học tai Khoa sáng tác âm nhạc của Trường Văn hóa nghệ thuật Tây Bắc. Dochỉ khát khao sáng tác nên khi ra trường ông chỉ chú tâm vào sáng tác âm nhạc. Cho đến cuối những năm chín mươi của thế kỷ hai mươi ông đã sáng tác thành công nhiều ca khúc, nhiều ca khúcđược nhiều ca sĩ thể hiện, được công chúng mến mộ, trong đó có những ca khúc khá nổi tiếng như: “Đêm trên hồ Thác”, “Đường mới trên quê hương”, “ Mùa xuân đi chợ Bắc Hà”, “Hương chè Việt Nam”... Và từ những ca khúc vang xa, đi vào lòng người đó mà ông được kết nạp vào Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Song ông khái niệm về Văn học - Nghệ thuật địa phương khá mù mờ và hầu như không quan tâm đến, chỉ đến khi có một cuộc gặp gỡ tình cờ với Nhà thơ Lò Ngân Sủn và tác giả thơ Đoàn Hữu Nam ông mới ngộ ra, cảm tình và thấy cần phải gắn bó với mái nhà chung này.

Đó là năm 1992 ông chuyển công tác lên Sở Văn hóa - Thông tin Lào Cai, trong một dịp ghé thăm Hội VHNT ông được anh em cơ quan Hội đón tiếp rất chân tình và thân mật. Trong lúc nhâm nhi chén rượu Nhà thơ Lò Ngân Sủn hào hứng đọc cho ông nghe bài thơ “Đêm xòe Xiêng Kẻo”, Đoàn Hữu Nam đọc bài: “Uống rượu ở chợ Bắc Hà”. Thơ hay. Không khí cởi mở, chân tình. Khát khao bày tỏ. Diễn đạt hào hứng, ấn tượng... Tất cả như cuốn ông vào thơ, và hai bản nhạc mang tên Lửa cháy đêm xòeUống rượu ở chợ Bắc Hà nhanh chóng ra đời. Hai bản nhạc đã là món quà cho ông nhập cuộc vào làng văn học nghệ thuật Lào Cai, vào Lào Cai, và cũng từ đó ông nhanh chóng yêu và trách nhiệm với Hội VHNT - ngôi nhà chung của văn nghệ sĩ Lào Cai.

Tháng 5 năm 1995, ông được tỉnh Lào Cai điều động về làm Phó Chủ tịch Hội VHNT. Từ ngỡ ngàng đến tự tin, hòa nhập, trách nhiệm ông đã nhanh chóng nắm vững công tác quản lý Hội, xác đinh rõ Hội VHNT Lào Cai là Hội của những người sáng tạo ra các tác phẩm VHNT có chất lượng cao, có ảnh hưởng sâu, rộng tới xã hội, nên Hội phải là nơi tập hợp và tạo điều kiện cho các tác giả sáng tác, là “bà đỡ” cho các tác phẩm của các chuyên ngành VHNT ra đời. Từ nhận thức đến hành động rõ ràng, dứt khoát, coi tâm huyết của người cũng như tâm huyết của mình, trong suốt mười năm tham gia công tác lãnh đạo Hội ông đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng Hội, cùng lãnh đạo Hội từng bước đưa công tác sáng tạo của hội viên ngày càng khởi sắc, đi vào chiều sâu, vị thế của Hội ngày càng được khẳng định.

Đặc biệt, với tài năng thiên phú, với tấm lòng yêu quê hương, đất nước ông đã nỗ lực sáng tác không ngừng nghỉ, những ca khúc tiêu biểu của ông như: Sa Pa - Nơi gặp gỡ đất trời, Lửa cháy đêm xòe, Khát vọng sông Chảy, Kèn Lá đêm trăng, Uống rượu ở chợ Bắc Hà.... Lần lượt ra đời. Hơn thế nữa, ông luôn trân trọng, yêu mến các tác thơ của Lào Cai, trân trọng, nâng niu, thổi hồn nhạc vào thơ của họ. Ông đã từng tâm sự về lần đầu đến với Hội VHNT Lào Cai, đến với thơ Lào Cai: “Đó là lần đầu tiên tôi được thưởng thức thơ một cách nghiêm túc, trân trọng và đầy tính nghệ thuật. Đồng thời ngay lúc ấy tự nhiên tôi thấy không thể thờ ơ với thơ, với văn học được và qua đó cho tôi thêm một nhận thức rằng: Âm nhạc sẽ gắn bó với thơ như một lẽ tất yếu, âm nhạc sẽ chắp cánh cho thơ và thơ sẽ làm cho âm nhạc sang trọng hơn, sâu sắc và phong phú hơn, nhất là âm nhạc ca khúc phản ánh về cuộc sống sinh hoạt của nhân dân các dân tộc miên núi. Có lẽ qua lần tiếp xúc với thơ này đã cho tôi một khái niệm mới mẻ và rõ ràng hơn về nghệ thuật của thơ và qua đó để nhận diện sự tài năng về tư duy ngôn ngữ của các nhà thơ mà không phải ai muốn là có thể làm được”. Từ tấm lòng với thơ và tài năng của mình ông đã phổ thơ của nhiều tác giả thơ của Lào Cai như: Lò Ngân Sủn, Đoàn Hữu Nam, Nguyễn Văn Hoàn, Công Thế, Mai Mơ... thành những ca khúc hay, được nhiều ca sĩ thể hiện thành công, được công chúng yêu âm nhạc của Lào Cai, của đất nước hào hứng đón nhận.

Nhạc sĩ Trần Hoàn đã từng nhận định về sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Nhạc sĩ Phùng Chiến: “Nhạc sĩ phải có 4 yếu tố: tài, tâm, tầm và có thực tế thì Phùng Chiến có cả” cũng từ như ca khúc viết về Lào Cai của ông. Xin chúc những ca khúc sống mãi với thời gian cùng sự nghiệp sáng tạo của ông mãi vang xa, lan xa.

Người lính Biên phòng với mạch văn chương viết về Người lính hôm nay

Ông Nguyễn Trọng Mạch sinh ngày 16 tháng 9 năm 1972; quê quán: Bằng Giã - Hạ Hòa - Phú Thọ, Hội viên Hội VHNT Lào Cai, ông là một cây bút trưởng thành trong đội ngũ những người lính quân hàm xanh, có nhiều năm tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ Quốc.

Ông Nguyễn Trọng Mạch đến với nghề văn không phải sự tình cờ hay khát vọng xới xáo, đào xới ký ức của những cuộc chiến tranh đã qua, ông đến với văn chương, nhập vào văn chương với một ao ước cháy bỏng là nói lên được những công việc âm thầm, bền bỉ của mình và những người lính biên phòng đang ngày đêm đối mặt với kẻ thù rõ mặt, khuất mặt nơi biên cương.

Viết về người lính hôm nay là một vấn đề khó. Khó bởi trong thời bình người lính thường không chiếm vị trí trung tâm của xã hội. Khó bởi trong xã hội lực lượng nhà văn viết về đề tài này đang mỏng dần, ít nhà văn tâm huyết, coi người lính là đối tượng sáng tác quan trọng của mình làm cho những người viết về người lình có phần nhụt chí. Khó nhưng không thể không làm, bởi thời nào cũng vậy, khi người lính còn giữ vai trò nòng cốt trong giữ gìn, xây dựng đất nước thì các văn nghệ sỹ còn phải có trách nhiệm xây dựng hình tượng những con người gánh vác trách nhiệm bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân. Đặc biệt, đất nước hòa bình song những người lính quân hàm xanh vẫn ngày đêm âm thầm bám trụ, gìn giữ từng tấc đất nơi biên cương của Tổ Quốc. Viết về họ không chỉ tri ân những công việc mà họ đang đổ mồ hôi xương máu vì mình mà còn thêm tiếng nói khẳng định vai trò, trách nhiệm của họ trong đời sống xã hội. Tác giả Nguyễn Trọng Mạch là một trong những người đang tham gia thực hiện công việc khó khăn này.

Với lợi thế là người trong cuộc, trong những năm qua Nguyễn Trọng Mạch đã có nhiều thành công trong việc dựng nên hình ảnh người chiến sỹ biên phòng. Những trang viết của ông bắt đầu từ những bài báo, những cảm nhận của mình với đồng đội, đồng bào nơi ông đóng quân, dần dà theo tháng năm, cùng với sự trưởng thành trong quân ngũ những trang văn dần cứng cáp, lan tỏa, từng trang, từng trang khơi gợi, bày tỏ những những nghĩ suy, trăn trở, lo toan, hy sinh mất mát của đồng đội, của những con người, mảnh đất ông nguyện suốt đời gắn bó.

Đó Si Ma Cai, vùng đất từ lâu đã được coi là Siberia khắc nghiệt của Lào Cai - dải biên cương phân cách ta và Trung Quốc bằng những vách đá thiên định dựng đứng như trường thành, sâu thẳm hun hút dưới kia dòng sông Xanh tựa giải lụa nhỏ trắng lững lờ giữa triền đá núi, phên dậu đất nước.

Đó là Tả Gia Khâu - miền đất mang danh Trường Sa cạn, khi Nguyễn Trọng Mạch lên nhận công tác ở nơi đâyđồng chí Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh nửa như dặn dò, nửa như giao nhiệm vụ cho ông: “Đi Tả Gia Khâu là khó khăn lắm đấy, địa bàn xa nhất tỉnh, khí hậu thì khắc nghiệt, đặc biệt là thiếu nước vô cùng, chú lên đó việc đầu tiên là phải phát huy tốt mối quan hệ quân dân để dựa vào dân mà công tác và lo cho cuộc sống của bộ đội”.

Đó là Pha Long - Nơi thượng nguồn Sông Xanh, dòng nước trong xanh không những là nguồn cung cấp nước nuôi dưỡng cả hàng nghìn con người và dệt lên màu xanh cây cối cho cả vùng mỏm nhô Đông Bắc huyện Mường Khương, cũng chính là cương vực thiên định rạch ròi, biên giới thiêng liêng ngàn đời của Tổ quốc.

Đó là Mưng Khảng, miền đất phiên âm ra tiếng Việt là Mường Khương. Rồi: Nậm Chảy - con suối chảy giữa lòng dân, Cốc Lầu - Miền đất hương thơm lan tỏa, Bản Lầu - Lá chắn biên ải phía Đông Bắc tỉnh, Bát Xát - miền đất lịch sử có mệnh danh Cửa Thác. Trịnh Tường - nơi biên giới dọc theo dòng sông. Lũng Pô - nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Ý Tý - Xứ Mưa. Lào Cai - Thành phố thiên thời địa lợi nhân hòa...

Là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp địa phương và các ban ngành dựa vào nhân dân để quản lý, bảo vệ biên giới, giữ gìn an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới nên nhiệm vụ của người chiến sỹ biên phòng rất vẻ vang song cũng rất nặng nề. Chiến tranh biên giới phía Bắc đã lùi xa gần bốn mươi năm. Gần bốn mươi năm qua hai nước đã xếp lại quá khứ để xây dựng tương lai, song biên giới không phải lúc nào cũng thanh bình, yên ả. Trong khi trời đất bình thản thực hiện vòng quay sáng tối theo phận sự, con người vun đắp biết bao cái tốt đẹp thì cũng có biết bao những việc làm đen tối mà con người phải đối mặt. Trong cuộc sống, để tồn tại, để thực hiện trách nhiệm của người được đất nước phân công gìn giữ biên cương chúng ta luôn luôn có những chiến sĩ biên phòng, những người dũng cảm, bền bỉ, khôn khéo, kiên quyết trong bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn trật tự trị an nơi biên giới. Và đó cũng là nội dung của cuốn sách Chuyện ở vùng biên của Nguyễn Trọng Mạch,cuốn sáchhiếm hoi của một tác giả là bộ đội biên phòng, viết về Bộ đội biên phòng ở Lào Cai.

Có thể nói văn chương của Nguyễn Trọng Mạch thể hiện trong Chuyện ở vùng biên không đi sâu vào học thuật, phô diễn, những trang viếtchủ yếu bộc bạch những nghĩ suy, những việc làm cụ thể của những người lính biên phòng tiếp bước cha anh làm phên dậu của đất nước. Lần giở theo những trang sách ta thấy dọc đường biên do các đồn biên phòng quản lý và bảo vệ là bước một bước là sang nhau, cột mốc nhiều chỗ chỉ là cái cây, vách đá. Núi rừng mênh mông, đồng bào bên bạn, bên mình nhiều người cùng dân tộc, cùng dùng tiếng Quan hoả để giao dịch, nếu không có sự tự giác, cảnh giác và hiệp đồng chặt chẽ của nhân dân thì các anh không thể hoàn thành nhiệm vụ.

Và nữa!

Theo cuốn sách ta thấy hiện lên hình bóng những chiến sỹ biên phòng luôn toát lên vẻ tự tin, lạc quan, yêu đời. Sự lạc quan, hồn nhiên, tin tưởng vào con đường mình đã chọn của những người lính hôm nay khôngkhác gì cha anh lớp trước.Những bước chân tuần tra của người chiến sỹ, lúc luồn rừng, lúc leo qua những quả đồi đầy lau lách, lúc lại như xuyên trong mây. Biết bao những hiểm nguy rình rập. Biết bao những nghĩ suy trăn trở. Nhưng phía trước, bên mình là biên giới, là cột mốc chủ quyền Quốc gia, là nhân dân đời này sang đời khác cần mẫn nuôi mình, nuôi khát vọng bình yên.

Và nữa!

Có là người trong cuộc, nhập cuộc mới thấy hết những khó khăn vất vả của cán bộ chiến sỹ, nhân dân dọc biên giới Mường Khương, vùng đất quanh năm thiếu nước, dường như ông trời khi nặn ra trái đất, nặn đến đây ông cố sức thổi cho vùng đất này phồng lên xẹp xuống, thành ra trênmặtđất, chỗ thì vồng lên thành núi cao chất ngất, chỗ thì lõm xuống thành vực sâu, còn ở bên dưới mặt đất lại rỗng rễnh những hang cùng động.

Và nữa!

Giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới là nhiệm vụ thường xuyên lâu dài có ý nghĩa chiến lược. Để hoàn thành được nhiệm vụ trọng đại này thì người lính biên phòng phải dựa vào nhân dân, như một cán bộ biên phòng đã nói: “Nếu không dựa vào nhân dân thì bộ đội biên phòng có xếp hàng giang tay ra cũng không ổn định được tình hình biên giới”. Cuộc sống của nhân dân vùng biên còn nhiều gian nan vất vả. Những bữa ăn cần phải cải thiện. Những ngôi nhà xiêu đổ cần phải dựng lại. “Cái chữ” cần phải đến với mọi người. Rồi nước cho sinh hoạt, cho sản xuất. Rồi tâm tư nguyện vọng, loại bỏ hủ tục lạc hậu... Biết bao những cái đồng bào cần Biên phòng chung tay giúp sức.

Ấn tượng đầu tiên của mọi người đến với vùng biên giới là nhìn thấy hai lá cờ Tổ Quốc tung bay, một ở sân trạm biên phòng, một ở sân trường học, hai dấu mốc của chủ quyền, của tương lai. Trong khi các nhà văn tên tuổi vì lý do này lý do khác chưa đến được hoặc chưa viết những tác phẩm lớn về hai dấu mốc vùng biên này thì chúng ta hãy trân trọng những trang viết trang lòng của những người lính như tác giả Nguyễn Trọng Mạch, chúc ông tiếp tục thành công trong trọng trách tham gia bảo vệ biên giới cũng như trong con đường văn chương ông đã chọn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn