Người có công giúp đỡ cách mạng

“Phải theo dõi chặt chẽ nhân vật số 06 - “Bông Hồng bên hồ Gươm” (tức Phạm Thị Hồng)

Hà Nội27/10/2026Xã Lộc Quang (Đoàn xã Lộc Quang)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

PĐ - Lần dở từng trang hồ sơ của sở mật thám Pháp để lại, ông Sáu Chức không khỏi ngỡ ngàng trước một nét bút phê vội bằng tiếng Pháp phía sau tấm ảnh chụp các cô gái trẻ. Trong danh sách những đối tượng "thân Việt Minh" bị mật thám theo dõi gắt gao như Phạm Thị Nga (số 01), Phạm Thị Mai (số 02), Phạm Thị Cúc (số 03)… Đặc biệt xuất hiện một dòng lệnh nghiêm ngặt ở cuối trang: “Phải theo dõi chặt chẽ nhân vật số 06 - “Bông Hồng bên hồ Gươm” (tức Phạm Thị Hồng).

Kỷ niệm 72 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), bài viết xin lật mở câu chuyện về mật danh đầy bí ẩn ấy…

"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài”

Người ta vẫn ví von sự thanh lịch của người Tràng An như cốt cách một nhành nhài. Nhưng nếu nét thanh lịch ấy kết tinh vào người phụ nữ Hà thành, nó không chỉ dừng lại ở sắc, mà còn lan tỏa thành hương. Con gái Hà Nội lạ thế, trong bình yên thì mềm mại, thướt tha như liễu rủ bên hồ; nhưng khi đặt vào hoàn cảnh giông bão, hiểm nghèo, cái ẩn sâu bên trong lớp nhung lụa đài các ấy lại là một ý chí sắt đá, rực rỡ và kiên cường vô song. Đó là cái chất sống không thể trộn lẫn: giữ vẹn chữ “tâm”, vẹn chữ “thanh” ngay cả dưới nanh vuốt của kẻ thù.

Người con gái mang mật danh số 06 năm xưa chính là một biểu tượng vẹn nguyên cho cốt cách ấy. Cụ Phạm Thị Hồng - phu nhân nhà cách mạng Nguyễn Kim Cương, người chị ruột của phu nhân cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và cũng là người bạn tri kỷ của phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một ngày thu năm 2016, tôi may mắn được gặp cụ Hồng tại số 70 Phan Đình Phùng khi cụ tròn 108 tuổi. Dưới vòm cây cơm nguội vàng, cụ vẫn an nhiên, minh mẫn đến lạ kỳ. Cử chỉ nhẹ nhàng cùng giọng nói Hà Nội gốc thanh tao của cụ vẫn vẹn nguyên nét quý phái của một bóng hồng tư sản thuở nào. Nụ cười an tĩnh ấy như chiếc chìa khóa vạn năng, mở toang cánh cửa thời gian, đưa tôi về lại thuở thanh xuân oanh liệt của người con gái Hà thành.

Ngược mốc thời gian về năm 1909, tiếng khóc chào đời của cô bé Phạm Thị Hồng đã làm rộn rã ngôi nhà số 37 phố Cầu Gỗ (thời Pháp thuộc gọi là phố Francis Garnier) - ngôi nhà cổ kính, rêu phong có từ thời ông nội cụ. Thân sinh của cụ là ông Phạm Quang Hưng, một "ông Phán dây thép" tài hoa tại Bưu điện bờ Hồ. Dù làm việc cho bộ máy thời Tây, nhưng dưới lớp áo comple, giầy hạ chỉnh tề của một công chức mẫn cán, trong lồng ngực người trí thức ấy lại đập một trái tim yêu nước nồng nàn. Kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Nhung, một người mẹ hiền thục mang đậm nét gia giáo của phụ nữ đất kinh kỳ, ông bà đã nuôi dưỡng nên một gia đình đại thế gia gồm 12 người con.

Trong tổ ấm tràn ngập tiếng tơ tiếng trúc và hương thơm sách vở ấy, 7 cô con gái được ví như 7 đóa hoa rực rỡ, mang những cái tên kiêu sa: Hồng, Nga, Lan, Na, Mai, Cúc, Thu. Sống giữa lòng phố cổ sầm uất nhưng gia đình vẫn giữ nếp gia phong nghiêm cẩn: con gái phải thông thạo nữ công gia chánh, am tường nghệ thuật, biết sống tự trọng và thương người. Nhờ vậy, họ không chỉ thừa hưởng nét đẹp thông minh, bảng lảng chất thơ của người thiếu nữ phố cổ, mà còn sớm nhen nhóm một tinh thần giác ngộ cách mạng sâu sắc từ người cha. Họ yêu Hà Nội, và tình yêu ấy tự nhiên hóa thành tình yêu Tổ quốc. Và giữa vườn hoa ngát hương, vẹn cả sắc lẫn tài của nhà họ Phạm ngày ấy, Phạm Thị Hồng chính là “Bông Hồng” bên hồ Gươm - đóa hoa kiêu hãnh, lộng lẫy và mang một lý tưởng sống cao đẹp hơn cả.

Ngôi nhà 37, Cầu Gỗ - “địa chỉ đỏ” cơ sở cách mạng

Thời đó, ngôi nhà 37 - Cầu Gỗ của dòng họ Phạm Quang rất ít được mọi người biết đến. Nhưng bắt đầu từ câu chuyện, người anh trai thứ tư của Phạm Thị Hồng là Phạm Quang Chúc. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, anh Chúc tham gia Việt Nam quốc dân Đảng. Vì có tinh thần yêu nước và luôn nêu cao tư tưởng chống Pháp nên đã bị địch bắt cùng với Nguyễn Thái Học, rồi bị đày ra Côn Đảo năm 1930. Trong tù, anh Chúc được giác ngộ cách mạng và kết bạn với các đảng viên Cộng sản tiền bối như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương…

Năm 1936, do bị áp lực từ phía mặt trận Bình dân Pháp đang thắng thế ở chính quốc, buộc chính quyền thực dân tại Việt Nam phải trả tự do cho các tù nhân chính trị ở Côn Đảo. Vì đã kết nghĩa huynh - đệ, “trích máu ăn thề” ở trong tù, nên khi được phóng thích về với gia đình, Phạm Quang Chúc đã nảy ra ý định xin phép cha cho các bạn tù chính trị là các anh: Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Tuấn Thức, Ba Ngọ, Đình Nhu… cùng được về ở tại nhà mình (37 - Cầu Gỗ), mục đích tìm công ăn việc làm để hoạt động cách mạng. Cảm kích trước chí khí cách mạng của các chàng trai trẻ và vui mừng về sự trưởng thành của con trai mình, ông Hưng không những đã chấp thuận ngay lời đề nghị đó mà còn sẵn sàng giúp đỡ họ vô điều kiện. Từ đó, gia đình ông Phạm Quang Hưng đã trở thành “địa chỉ đỏ” thời kháng chiến chống thực dân Pháp ở thủ đô Hà Nội. Ngôi nhà 37 - Cầu Gỗ nay được xếp hạng di tích lịch sử và gắn biển “Là cơ sở bí mật của phong trào yêu nước ở Hà Nội từ năm 1930 đến năm 1945”.

Từ cái nết được cha mẹ uốn nắn ngay ở trong nhà, khi ra ngoài xã hội, Phạm Thị Hồng luôn là người con gái kín đáo, ý nhị, lịch thiệp, mềm mỏng và giàu lòng tự trọng. Cô đã chủ động liên hệ để những người bạn của anh trai mình được học nghề làm bánh, làm kem và mở hiệu tại bờ hồ Hoàn Kiếm, sau này trở thành hiệu kem nổi tiếng với cái tên Zêphie (Zephyr). Lúc đó, Phạm Thị Hồng bắt đầu cảm nhận, các chiến sĩ cách mạng ở nhà cô họ rất tử tế, lịch thiệp và vui tính. Anh Tô (Phạm Văn Đồng) ở trên gác xép, chăm chỉ viết báo, anh Nguyễn Kim Cương cũng vậy. Sau những giờ phút hoạt động bí mật, các anh lại tranh thủ ra bờ hồ để bán kem, bồi bàn, nói tiếng Pháp làu làu, khiến cho bọn Tây cũng phải nể phục. Có điều lạ, hầu như 7 chị em gái của cụ Hồng lúc đó cô nào cũng muộn chồng không phải vì thua tài, kém sắc mà thời đó đã không ít các chàng trai Hà thành đều là những trí thức, con nhà danh giá để mắt đến, nhưng không có một cô gái họ Phạm nào bằng lòng, bởi cái “mốt” của con gái Hà Nội lúc bấy giờ vẫn thích những thanh niên có ý chí cách mạng hơn là giàu sang phú quý.

Tình cảm gia đình và tình cảm cách mạng luôn là động lực thôi thúc trái tim người con gái Hà thành, Phạm Thị Hồng đã đem lòng yêu thương và kết duyên với chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Kim Cương. Mặc dù ở Hà Nội hồi đó, việc cưới xin đều phải tuân thủ theo đúng phép tắc của các nghi thức cổ, nhưng vì thương mấy anh cách mạng nên ông Hưng đã miễn tất cả, từ việc ăn hỏi, trầu cau, đến lễ tơ hồng… song đám cưới của họ vẫn rất vui vẻ, cô dâu mặc áo dài đỏ, chú rể mặc áo thụng màu lam, thật xứng đôi “trai thanh, gái lịch”. Đến năm 1946, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng đã làm lễ thành hôn với cô Phạm Thị Cúc (cô thứ 6). Tiếp theo đó, hai cô: Phạm Thị Mai và Phạm Thị Thu cũng lần lượt tổ chức lễ cưới với hai thanh niên kháng chiến: Tạ Văn Nho và Lê Kim Ánh.

Từng là đồng chí của nhau, nay lại trở thành anh em trong một gia đình như động lực to lớn, giúp các chiến sĩ cách mạng vượt qua được muôn vàn khó khăn thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Bác Hồ giao phó. Có một điều thú vị, trong mối quan hệ gia đình ở số nhà 37, mặc dù là em rể nhưng chưa khi nào cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi bà Phạm Thị Hồng là chị, mà vẫn một mực gọi “cô Hồng”, cách xưng hô đó nghe thật tình cảm và thân thiết, giống như ngày đầu mới gặp, ngược lại bà Hồng cũng luôn gọi người em rể của mình là anh Tô, hoặc anh Đồng.

Trong số bạn bè thân thiết của Phạm Thị Hồng, có Nguyễn Quang Thái, em ruột của Liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai. Chị Nguyễn Quang Thái vốn là sinh viên trường Bưởi và là vợ đầu của anh Võ Nguyên Giáp. Một hôm, chị Thái nhìn thấy lá cờ tam sắc treo ở trên cột, vì căm ghét thực dân Pháp, chị đã thốt lên một câu như chửi thẳng vào mặt chúng: “Cờ gì mà trông như cái đuôi chó vậy”, không ngờ có tên chỉ điểm đứng cạnh, chị Thái đã bị giặc bắt và phải chịu những trận đòn tra tấn hết sức dã man, dẫn tới băng huyết rồi chết tại Bệnh viện Bạch Mai. Biết tin, Phạm Thị Hồng đến lo liệu việc khâm liệm và tiễn đưa vợ anh Giáp về nơi an nghỉ cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn.

Người mang mật danh số 06

Một câu chuyện tình cờ đầy cảm động. Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1975), trong đoàn cán bộ của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc đó vào tiếp quản Sài Gòn có ông Sáu Chức, là chỗ thân tình với gia đình cụ Phạm Thị Hồng. Trong khi làm nhiệm vụ tiếp quản tại nha cảnh sát Ngụy, ông Chức phát hiện thấy trong tập hồ sơ “danh sách các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam” có một tấm hình đen trắng cỡ 18 x 24, chụp năm 1938 tại hiệu ảnh bờ hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội. Điều đặc biệt là, 6 cô con gái nhà ông Phạm Quang Hưng trong bức ảnh thì cả 6 cô đều bị đánh số ở trên trán?

Lần dở từng trang hồ sơ của sở mật thám Pháp chuyển giao cho chính quyền Mỹ - Ngụy ở Sài Gòn, ông Sáu Chức rất ngạc nhiên và bất ngờ về những dòng chữ được ghi bằng tiếng Pháp ở phía sau tấm hình như một lời chú thích: “Những đối tượng thân cộng sản theo số thứ tự: Phạm Thị Nga (số 1); Phạm Thị Mai (số 2); Phạm Thị Cúc (số 3)…”. Đặc biệt phần cuối có dòng chữ đậm: “Phải theo dõi chặt chẽ nhân vật số 06 - Bông Hồng bên hồ Gươm” (tức Phạm Thị Hồng).

Năm 1938 (lúc đó Phạm Thị Hồng tròn 30 tuổi), sau khi kết hôn với nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Kim Cương. Một hôm, Hồng rủ các em gái của mình là: Phạm Thị Nga, Phạm Thị Lan, Phạm Thị Na, Phạm Thị Mai và Phạm Thị Cúc (lúc đó chưa sinh cô thứ 7 - Phạm Thị Thu) ra bờ hồ Hoàn Kiếm để chụp chung tấm hình làm kỷ niệm. Không ngờ, bọn mật thám Pháp theo dõi, chúng yêu cầu chủ hiệu ảnh phóng thêm một tấm và trả với giá tiền cao gấp 5 lần.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Việt Nam, bọn thực dân phản động thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Theo chỉ thị của Trung ương, các đảng viên Cộng sản hoạt động bán công khai ở Hà Nội dần dần lui vào hoạt động bí mật. Từ năm 1943, ông Nguyễn Kim Cương đưa vợ con vào Sài Gòn, sang Phnôm Pênh, rồi từ Phnôm Pênh trở lại Sài Gòn. Dù đi đến đâu, chân trời hay góc bể, nhưng bà Hồng vẫn cùng chung vai gánh vác với chồng, tần tảo nuôi 5 đứa con để ông yên tâm hoạt động cách mạng. Toàn quốc kháng chiến (1946), ông Cương đi chiến khu, bà Hồng ở lại Sài Gòn tổ chức trạm giao liên, xây dựng cơ sở cách mạng ở nội thành. Sau đó, bà về Bạc Liêu, rồi ra chiến khu cùng chồng (lúc đó ông Cương làm Phó giám đốc, kiêm Bí thư Hiệu ủy trường Cán bộ Đảng Cao cấp Trường Chinh và Phó Giám đốc Sở Giáo dục Nam bộ, sau này giữ chức Thứ trưởng Phủ Thủ tướng (nay là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao).

Năm 1953, theo chủ trương của Trung ương Cục Miền Nam, bà Phạm Thị Hồng được đồng chí Hà Huy Giáp giao nhiệm vụ đặc biệt, đưa đoàn vợ con của các đồng chí cán bộ từ Bạc Liêu ra chiến khu Việt Bắc. Tại đây, bà Hồng vinh dự được gặp Cụ Hồ và được phân công làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng. Cho đến khi hòa bình lập lại (1954), ông bà cùng Trung ương trở về Hà Nội, về với phố xưa nhà cổ.

Trọn một thế kỷ, có biết bao biến cố sự đời trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, nhưng đến hôm nay cụ Phạm Thị Hồng vẫn sống vui, sống khỏe, có lẽ một phần là do lòng cụ chan chứa yêu thương, yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống, nên đã giúp cụ nuôi dạy 5 người con khôn lớn, trưởng thành, như bài thơ cụ tặng chúng tôi trước lúc chia tay: “Trải ngoại trăm năm gội nắng mưa / Xót dạ không còn lớp bạn xưa / Ơn trời cho được bầy cháu chắt / Ngẫm lại đời mình tự tuổi thơ / Qua bao sương gió thân còn sót / Kể chuyện vui cười con cháu ưa / Nội – Ngoại phong cho cây “cổ thụ” / Còn ngày, còn hưởng khúc xuân đưa”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn