Phạm Hiền Ánh
Tôn Thất Tùng (10 tháng 5 năm 1912 – 7 tháng 5 năm 1982) là một bác sĩ phẫu thuật người Việt Nam, nổi danh trong lĩnh vực nghiên cứu về gan. Ông được biết đến là tác giả của "phương pháp mổ gan khô" hay còn được gọi là "phương pháp Tôn Thất Tùng". Sinh tại Thanh Hóa trong một gia đình vọng tộc, Tôn Thất Tùng theo học tại Hà Nội ở tuổi niên thiếu, trở thành một sinh viên y khoa và dành nhiều thời gian để nghiên cứu về gan. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Việt Minh rồi dần đảm nhiệm nhiều tr
Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912 tại Thanh Hóa trong một gia đình quý tộc nhà Nguyễn. Cha của ông là Tôn Thất Niêm, từng giữ chức Tổng đốc Thanh Hóa; mẹ là Hồng Thị Mỹ Lệ, người vợ thứ ba của Tôn Thất Niêm. Tùng là con út trong gia đình có năm người con. Sau khi chồng qua đời, bà Mỹ Lệ đã đưa gia đình về Huế sinh sống.
Năm 1931, ông ra Hà Nội theo học tại trường Trung học Bảo Hộ (tức là trường Bưởi – trường Chu Văn An ngày nay). Năm 1935, ông học tại Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương, một trường thành viên của Viện Đại học Đông Dương, với quan niệm nghề y là một nghề "tự do", không phân biệt giai cấp.
Lúc bấy giờ, Trường Y Dược Hà Nội là trường y duy nhất của cả Đông Dương trước 1945, khi đó có lệ các sinh viên y khoa bản xứ chỉ được thực tập ngoại trú, không được dự các kỳ thi "nội trú", do chính quyền thuộc địa không muốn có những bác sĩ bản xứ có trình độ chuyên môn cao có thể cạnh tranh với bác sĩ của chính quốc. Trong thời gian làm việc ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã rất bất bình với việc này và đã đấu tranh đòi chính quyền thực dân phải tổ chức cuộc thi nội trú cho các bệnh viện ở Hà Nội vào năm 1938. Ông là người duy nhất trúng tuyển một cách xuất sắc trong kỳ thi khóa nội trú đầu tiên của trường và mở đầu tiền lệ cho các bác sĩ nội trú người bản xứ.
Cũng trong giai đoạn này, trong một lần ông đã phát hiện trong gan của một người bệnh có giun chui ở các đường mật, ông đã nảy ra ý tưởng dùng những lá gan bị nhiễm giun để phẫu tích cơ cấu của lá gan. Trong suốt thời gian từ năm 1935 đến năm 1939, chỉ bằng một con dao nạo, ông đã phẫu tích trên 200 lá gan của tử thi để nghiên cứu các mạch máu và vẽ lại thành các sơ đồ đối chiếu. Trên cơ sở đó, ông đã viết và bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa với nhan đề "Cách phân chia mạch máu của gan". Với bản luận án này, ông đã được tặng Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris (mà trường Y Dược Hà Nội lúc bấy giờ là một bộ phận). Bản luận án được đánh giá rất cao và trở thành tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông.
Tôn Thất Tùng là một trong những trí thức tiêu biểu của nền y học Việt Nam hiện đại, người đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cứu người và phát triển khoa học. Ông sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình có truyền thống học vấn, sớm bộc lộ tư chất thông minh, ham học hỏi. Từ khi còn là sinh viên Trường Đại học Y khoa Hà Nội, ông đã nổi bật với tinh thần nghiên cứu nghiêm túc và ý chí theo đuổi khoa học đến cùng. Sau khi tốt nghiệp, ông công tác tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt Đức), nơi ông bắt đầu hành trình gắn bó suốt đời với ngành ngoại khoa, đặc biệt là phẫu thuật gan – một lĩnh vực vô cùng khó khăn và nguy hiểm vào thời điểm bấy giờ.
Trong những năm 1930 – 1940, khi y học thế giới vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong phẫu thuật gan do nguy cơ chảy máu cao và tỷ lệ tử vong lớn, Tôn Thất Tùng đã dày công nghiên cứu cấu trúc giải phẫu gan bằng việc quan sát, thực nghiệm trên hàng nghìn mẫu bệnh phẩm. Từ đó, ông đã phát hiện ra những đặc điểm quan trọng về hệ thống mạch máu trong gan, làm cơ sở cho việc xây dựng một phương pháp phẫu thuật hoàn toàn mới. Đến năm 1939, ông công bố công trình khoa học nổi tiếng về “phương pháp cắt gan có kiểm soát”, sau này được thế giới biết đến rộng rãi với tên gọi “phương pháp Tôn Thất Tùng”. Phương pháp này cho phép cắt gan nhanh, hạn chế mất máu, rút ngắn thời gian phẫu thuật và nâng cao khả năng sống sót của bệnh nhân. Đây được xem là một bước tiến mang tính đột phá, đưa tên tuổi ông vươn tầm quốc tế và khẳng định trí tuệ của y học Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu khoa học, Tôn Thất Tùng còn có những đóng góp to lớn trong thực tiễn, đặc biệt là trong thời kỳ kháng chiến. Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn đủ bề, ông vẫn trực tiếp tham gia phẫu thuật, cứu chữa cho hàng nghìn thương binh, bệnh nhân. Ông luôn giữ vững tinh thần trách nhiệm, tận tụy với nghề, coi việc cứu người là sứ mệnh thiêng liêng. Chính trong hoàn cảnh khó khăn ấy, tài năng và bản lĩnh của ông càng được thể hiện rõ nét: vừa làm công tác chuyên môn, vừa nghiên cứu, vừa đào tạo cán bộ y tế, góp phần xây dựng nền ngoại khoa Việt Nam từ những nền tảng ban đầu.
Sau hòa bình lập lại, ông tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong ngành y tế, đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, đồng thời là một nhà giáo tận tâm. Ông đã đào tạo nên nhiều thế hệ bác sĩ giỏi, truyền lại không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn cả đạo đức nghề nghiệp và tinh thần say mê khoa học. Đối với ông, một người thầy thuốc giỏi không chỉ cần có tay nghề cao mà còn phải có trái tim nhân ái, biết đặt sinh mạng con người lên trên hết. Chính vì vậy, ông luôn nhấn mạnh y đức là yếu tố cốt lõi trong nghề y.
Với những đóng góp xuất sắc trong suốt cuộc đời, Tôn Thất Tùng đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động, cùng nhiều huân chương và giải thưởng lớn. Tuy nhiên, điều đáng quý nhất ở ông không chỉ là những danh hiệu mà chính là tinh thần cống hiến không ngừng nghỉ, ý chí vượt qua mọi khó khăn để theo đuổi khoa học và phục vụ con người. Ông qua đời ngày 7 tháng 5 năm 1982, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho toàn ngành y và nhân dân cả nước.
Cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Thất Tùng là minh chứng tiêu biểu cho sự kết hợp giữa trí tuệ, bản lĩnh và lòng nhân ái. Ông không chỉ là niềm tự hào của y học Việt Nam mà còn là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ hôm nay noi theo. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi khoa học ngày càng phát triển, tinh thần học hỏi, sáng tạo và cống hiến của ông vẫn còn nguyên giá trị. Tên tuổi của ông sẽ mãi được ghi nhớ như một biểu tượng lớn của nền y học nước nhà, một con người đã sống trọn vẹn vì khoa học và vì con người.



