Bài viết

Phạm Hùng

Phạm Hùng (11 tháng 6 năm 1912 – 10 tháng 3 năm 1988), tên khai sinh là Phạm Văn Thiện, còn có bí danh là Hai Hùng, Bảy Cường, X2, A7 là một chính khách Việt Nam. Từng đảm nhận chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1987 đến khi qua đời đột ngột vào ngày 10 tháng 3 năm 1988. Sau khi kế nhiệm Phạm Văn Đồng, ông trở thành vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thứ hai của Việt Nam sau khi tái lập thống nhất, đồng thời là vị Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (chức danh

An Giang07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Tham gia hoạt động cách mạng từ những năm 1920–1930 với những vai trò trong phong trào thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức Nam Kỳ học sinh liên hiệp hội và Thanh niên cộng sản đoàn, Phạm Hùng từng bị chính quyền Pháp tuyên 2 án tử hình và là một trong những lãnh đạo chủ chốt của những người Cộng sản tại miền Nam suốt thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Thăng tiến từ vị bí thư trẻ nhất của Tỉnh ủy Mỹ Tho đến chức vụ Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Phạm Hùng được cử làm Phó Giám đốc Sở Công an Nam bộ, lãnh đạo lực lượng công an Nam Bộ và trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ trong giai đoạn Chiến tranh Đông Dương.

Sau khi ra Hà Nội, Phạm Hùng được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị vào năm 1956. Ông đã có gần 30 năm đảm nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ và Đại biểu Quốc hội Việt Nam. Trong giai đoạn 1967–1975, trước sự ra đi đột ngột của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông trở vào miền Nam Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trở thành một trong những người nắm quyền chỉ huy Trung ương Cục Miền Nam và là Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Năm 1987, khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nghỉ hưu sau hơn 30 năm tại vị, Phạm Hùng trở thành người kế vị tiếp theo, trở thành chính khách đầu tiên giữ chức vụ này sau thời kỳ Đổi Mới.

Trong giai đoạn tại vị, Phạm Hùng đã tổ chức thực hiện, đưa ra nhiều chủ trương, đường lối đổi mới của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, các chính sách này đã được Chính phủ thực hiện. Ông còn là một trong những nhà lãnh đạo đi đầu trong chống các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu trong Đảng, trong xã hội Việt Nam. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1988, Phạm Hùng đột ngột qua đời trong một chuyến công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi qua đời, ông đã trao lại quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho Võ Văn Kiệt khi này đang giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, mặc dù vậy, Võ Văn Kiệt lại thất bại trước Đỗ Mười khi được bầu làm người kế vị tiếp theo. Tang lễ của Phạm Hùng được tổ chức tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội theo nghi thức Quốc tang và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. Cũng trong năm này, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.

Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1912, tại làng Long Hồ, huyện Châu Thành (nay là xã Long Hồ), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình trung nông. Ông theo học ở trường làng, sau đó học bậc tiểu học ở Trường tiểu học Vĩnh Long, từ năm 1927 đến 1930 tiếp tục học bậc trung học tại Mỹ Tho.

Năm 16 tuổi, ông tham gia cách mạng, hoạt động trong phong trào thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức Nam Kỳ học sinh liên hiệp hội và Thanh niên Cộng sản Đoàn. Năm 1930, ông bị Thống đốc Nam Kỳ ra quyết định đuổi học, ông cũng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1930.

Năm 19 tuổi ông làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho. Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1931, trong cuộc mít tinh của 3000 nông dân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động ở Châu Thành, Mỹ Tho, Phạm Hùng đã bắn chết Hương Quản Trâu, một tay sai của Pháp. Ông sau đó đã bị bắt và bị kết án 3 năm tù. Ngày 20 tháng 9 năm 1932, tại phiên tòa đại hình tại tỉnh Mỹ Tho ông bị kết án tử hình và đưa về giam ở xà lim án chém Khám Lớn Sài Gòn. Trong khi chờ lên máy chém, Pháp đưa ông lên Sài Gòn để nhận thêm một án tử hình nữa mà Pháp gọi là ""Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương"".

Song, do sự phản đối của dư luận trong nước cũng như ở Pháp về việc kết án tử hình một học sinh, nhất là cuộc vận động rầm rộ của Đảng Cộng sản Pháp đòi xóa bỏ án tử hình cho tù chính trị ở Đông Dương. Năm 1934, Chính phủ Pháp đã giảm án xuống khổ sai chung thân và đưa ông ra Côn Đảo giam giữ vào ngày 17 tháng 1 năm 1934, ông sau đó được bổ sung vào chi uỷ nhà tù Côn Đảo sau đó được cử làm Bí thư Đảo uỷ. Sau 14 năm trong tù, năm 1945 khi cách mạng tháng tám nổ ra, ông cùng với tù nhân khác chớp thời cơ giải phóng nhà tù Côn Đảo. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, ông được chính quyền cách mạng đưa tàu ra đón về và giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ vào năm 1946.

Ngoài chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ ông kiêm Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc, từ Quốc gia Tự vệ cuộc, Phạm Hùng tổ chức thành lập bộ phận công an cách mạng, sau này là Nha Công an Nam Bộ. Năm 1947, ông được cử làm Phó Giám đốc Sở Công an Nam bộ. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông được phân công nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an Nam Bộ và trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Tại Đại hội lần thứ hai của Đảng Lao động Việt Nam họp năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và công tác ở Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam Bộ. Trên cương vị này, ông đã cùng với Trung ương Cục miền Nam vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể Nam bộ như: tiến hành phân chia lại ruộng đất và giải quyết vấn đề tôn giáo, làm tốt công tác vận động nhân sĩ, trí thức, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng.

Sau Hiệp định Genève, 1954, ông được cử làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến tại Nam Bộ và năm sau làm Trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban quốc tế tại Sài Gòn, và mang hàm Đại tá.

Trên cương vị Bí thư Xứ ủy, Phạm Hùng đã vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và tự lực cánh sinh của Trung ương Đảng, xây dựng thực lực của cách mạng và giải quyết hàng loạt vấn đề ở Nam Bộ do lịch sử để lại như các tổ chức vũ trang xuất thân từ các thành phần khác nhau, xóa bỏ thành kiến giữa ""Việt Minh cũ - Việt Minh mới"". Ông Hùng đã chỉ đạo xây dựng, củng cố khối đoàn kết thống nhất các lực lượng kháng chiến và kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Xứ ủy. Bởi vậy, dù trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất, cuộc kháng chiến của quân và dân Nam bộ lập được nhiều chiến thắng vẻ vang, được Bác Hồ tặng danh hiệu ""Nam bộ Thành Đồng"".

Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ V vào năm 1950, dự thảo Đề án Công an nhân dân Việt Nam do Phạm Hùng trình bày, được thông qua đã trở thành cơ sở khoa học lý luận cho việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn