Phạm Kiệt với những ngày đầu ở Cao Muôn: 28 chiến sĩ xây dựng căn cứ giữa núi rừng
Sau lễ tuyên thệ tại Hang Én đêm 14/3/1945, Đội du kích Ba Tơ tiếp tục cơ động về vùng núi Cao Muôn để xây dựng căn cứ kháng Nhật. Khi ấy, lực lượng chỉ có 28 cán bộ, chiến sĩ với 24 khẩu súng, do Phạm Kiệt làm Đội trưởng, Nguyễn Đôn làm Chính trị viên. Đây là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ do Đảng tổ chức, lãnh đạo.
Những ngày đầu giữa núi rừng không hề dễ dàng. Đội phải nhanh chóng dựng lán trại, ổn định nơi ăn ở, tổ chức huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị. Đồng thời, các chiến sĩ tỏa đi các buôn làng để tuyên truyền, vận động đồng bào, xây dựng cơ sở chính trị và căn cứ kháng Nhật. Trong điều kiện quân Nhật truy lùng, việc giữ vững lực lượng và căn cứ trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.
Đội không chỉ dựa vào lực lượng 28 người ban đầu. Tại các vùng núi, cán bộ, chiến sĩ tiến hành vận động quần chúng, tổ chức ăn thề và xây dựng sự gắn bó với đồng bào địa phương. Cùng với đó là quá trình huấn luyện để biến một lực lượng mới thành một đội quân có khả năng chiến đấu. Những ngày đầu, trình độ quân sự của nhiều chiến sĩ còn hạn chế; nhưng qua huấn luyện, họ từng bước nắm được những động tác cơ bản về sử dụng súng, kỹ thuật chiến đấu cá nhân và tổ ba người.
Trong tháng 3, Đội tiếp tục cơ động qua nhiều địa điểm vùng núi để vừa xây dựng căn cứ, vừa vận động nhân dân. Tư liệu của Quảng Ngãi ghi nhận ngày 15/3 Đội hành quân qua Cơ Nhất, Ba Xa, đến Nước Nẻ; ngày 17/3 tiếp tục cơ động về Man Cá và sau đó về Cổ Bầu, Nước Sung. Đây là một quá trình vừa tìm địa bàn đứng chân, vừa gây dựng cơ sở và củng cố lực lượng.
Đến tháng 4/1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử Nguyễn Chánh về trực tiếp lãnh đạo Đội. Cuối tháng 4, trước yêu cầu mới của phong trào, Đội được quyết định đưa về vùng đồng bằng để xây dựng hai chiến khu ở trung châu: Chiến khu Bắc tại Vĩnh Tuy, Sơn Tịnh và Chiến khu Nam tại Núi Lớn, Mộ Đức. Ngày 2/5, Đội chia thành hai bộ phận trở về đồng bằng; bộ phận do Phạm Kiệt, Phan Phong và Nguyễn Khoách chỉ huy về vùng Sơn Tịnh.
Như vậy, thời gian ở Cao Muôn tuy không dài nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với sự trưởng thành của Đội du kích Ba Tơ. Từ 28 chiến sĩ ban đầu, lực lượng từng bước có tổ chức, có căn cứ, có kinh nghiệm huấn luyện và vận động quần chúng. Chỉ vài tháng sau, Đội đã phát triển thành lực lượng nòng cốt trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Quảng Ngãi.



