Phạm Kiều Đa
"Chỉ cần sai một chi tiết nhỏ là đổ máu, thậm chí mất mạng ngay. Trong hoàn cảnh ấy, mỗi bước đi, mỗi quyết định đều phải được tính toán bằng sự tỉnh táo và kỷ luật sắt. Ranh giới giữa sự sống và cái chết khi đó mong manh đến nghẹt thở", ông Phạm Kiều Đa nói.
"Chỉ cần sai một chi tiết nhỏ là đổ máu, thậm chí mất mạng ngay. Trong hoàn cảnh ấy, mỗi bước đi, mỗi quyết định đều phải được tính toán bằng sự tỉnh táo và kỷ luật sắt. Ranh giới giữa sự sống và cái chết khi đó mong manh đến nghẹt thở", ông Phạm Kiều Đa nói.
Có những giai đoạn ông Đa và đồng đội sống triền miên dưới hầm bí mật, ngày ẩn mình, đêm mới lên mặt đất hoạt động. Có lúc hàng tháng trời không thấy ánh mặt trời, không biết mưa nắng ra sao, chỉ biết nhiệm vụ còn đó, đồng đội còn đó và quyết tâm chiến đấu.Trong các căn hầm bí mật nội đô Đà Nẵng, đã có 17 người xuống, và chỉ 3 người sống sót, tất cả đều mang thương tích suốt đời. Sự tồn tại của biệt động không thể tách rời vòng tay che chở của nhân dân, của những gia đình lặng lẽ đào hầm, nuôi giấu cán bộ ngay giữa lòng địch. "Không có dân, biệt động không thể tồn tại", ông Đa nói với giọng trầm xuống.
Một trong những ký ức ông Đa không thể quên là trận phá kho bom sân bay Đà Nẵng, nhằm cắt nguồn tiếp tế cho mặt trận Thượng Đức. Ông Đa kể, chiến sĩ được chọn thực hiện nhiệm vụ là người đang làm việc ngay trong sân bay địch. Người này chưa từng đánh đặc công, chưa quen với thuốc nổ. Trong thời gian ngắn ngủi, ông Phạm Kiều Đa trực tiếp huấn luyện, truyền lại từng thao tác, từng nguyên tắc sinh tử.
"Bốn quả mìn được đặt vào 4 dãy kho. Kíp nổ chậm được cài. Thời khắc quyết định trôi qua. 7 giờ sáng, không tiếng nổ. 8 giờ, vẫn im lặng. Chiến sĩ buộc phải quay lại kho bom, nơi chỉ cần một sai sót là tan xác. Và rồi, một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, phá hủy toàn bộ kho bom với hàng chục ngàn quả. Trận đánh thành công, không chỉ bởi sức công phá, mà bởi sự bình tĩnh, trí tuệ và lòng dũng cảm đến tận cùng của người lính biệt động", ông Đa nhớ lại. Chiến tranh không chỉ có chiến công, mà còn chất chồng những mất mát không thể bù đắp. Ông Đa kể về một đồng đội bị địch tra tấn ngay trên miệng hầm bí mật, trong khi bên dưới, ông và một chiến sĩ khác đã cầm sẵn lựu đạn, sẵn sàng hy sinh nếu hầm bị lộ. Người chiến sĩ ấy chịu đòn suốt hàng chục giờ liền, đến khi hy sinh vẫn không khai một lời. "Đồng chí hy sinh để tôi còn sống", ông Đa rưng rưng.Và đến ngày 29.3.1975, chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Dự đã anh dũng ngã xuống trên đường phố Đà Nẵng, trước giờ toàn thắng đúng 2 tiếng đồng hồ. Một cái chết lặng lẽ nhưng được khắc sâu trong ký ức những người còn sống, như một lời nhắc nhở về cái giá của hòa bình.



