Anh hùng Lực lượng vũ trang

PHẠM KIỀU ĐA – NGƯỜI BIỆT ĐỘNG TIẾN VÀO TÒA THỊ CHÍNH NGÀY ĐÀ NẴNG GIẢI PHÓNG

Vĩnh Long25/09/2026Văn Đình Long (Đoàn phường Phong Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sáng 29 tháng 3 năm 1975.

Đà Nẵng bước vào những giờ phút lịch sử.

Sau những thắng lợi liên tiếp ở Quảng Trị, Huế, Tam Kỳ và Quảng Ngãi, lực lượng đối phương tại Đà Nẵng bị dồn vào thế co cụm. Các cánh quân giải phóng từ nhiều hướng đồng loạt tiến về thành phố.

Nhưng cuộc tiến công Đà Nẵng không chỉ được thực hiện bởi những binh đoàn chủ lực từ bên ngoài.

Ngay giữa lòng thành phố, những chiến sĩ Biệt động thành đã chờ đợi thời khắc này từ nhiều năm trước.

Trong số đó có Phạm Kiều Đa.

Năm 16 tuổi, Phạm Kiều Đa đã tham gia hoạt động cách mạng và trở thành chiến sĩ biệt động nội đô Đà Nẵng. Từ những căn hầm bí mật giữa lòng thành phố, ông cùng đồng đội vừa chiến đấu, vừa tìm cách giữ vững cơ sở cách mạng ngay giữa sự kiểm soát gắt gao của đối phương.

Những năm sau đó, Phạm Kiều Đa từng đảm nhiệm công tác hậu cần của Mặt trận 4 Quảng Đà, tham gia tổ chức vận chuyển vũ khí, đạn dược và lương thực phục vụ các lực lượng chiến đấu trong thành phố.

Đến giai đoạn 1970–1975, ông giữ cương vị Phó Quận đội trưởng Quận Nhất Đà Nẵng, kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động – Tự vệ cánh Đông.

Đó là lực lượng hoạt động ngay trong lòng thành phố.

Họ không có những tuyến hậu phương an toàn.

Không có những trận địa rộng lớn.

Mỗi căn hầm, mỗi ngôi nhà cơ sở, mỗi con đường trong thành phố đều có thể trở thành nơi chiến đấu hoặc nơi hiểm nguy.

Nhưng chính những người lính ấy lại trở thành một trong những lực lượng quan trọng trong giờ phút Đà Nẵng bước vào ngày giải phóng.

Cuối tháng 3 năm 1975, thời cơ giải phóng Đà Nẵng đã đến.

Phạm Kiều Đa nhận nhiệm vụ chỉ huy lực lượng tiến công vào những mục tiêu quan trọng trong nội thành, trong đó có Tòa Thị chính, Quân vụ thị trấn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Đài Phát thanh.

Đây đều là những cơ quan đầu não.

Nếu chiếm được những vị trí này, lực lượng cách mạng có thể nhanh chóng làm chủ trung tâm thành phố.

Sáng 29/3/1975, Phạm Kiều Đa cùng đồng đội từ vùng ven tiến vào nội thành.

Ông cải trang, di chuyển bằng xe Honda cùng đồng đội để tiếp cận các mục tiêu.

Khoảng 9 giờ sáng, ông có mặt trước khu vực Tòa Thị chính.

Phía bên kia là một trong những cơ quan quyền lực quan trọng nhất của chính quyền cũ tại Đà Nẵng.

Nhưng tình hình lúc đó đã thay đổi rất nhanh.

Hệ thống phòng thủ của đối phương rơi vào tình trạng tan rã.

Những người lính biệt động tiến vào.

Không còn là những trận đánh trong bóng tối của những căn hầm bí mật.

Đây là thời khắc họ bước ra ánh sáng.

Khoảnh khắc lịch sử đến vào cuối buổi sáng.

Các mũi biệt động tiến vào khu vực Tòa Thị chính.

Theo hồi ức của Phạm Kiều Đa, ông trực tiếp chỉ huy mũi tiến công phối hợp với lực lượng nội thành đánh chiếm Tòa Thị chính.

11 giờ 30 phút ngày 29/3/1975.

Lá cờ cách mạng được kéo lên nóc Tòa Thị chính Đà Nẵng.

Đó là khoảnh khắc đánh dấu sự sụp đổ của bộ máy chính quyền cũ tại thành phố.

Cũng từ thời điểm ấy, Đà Nẵng bước vào một trang sử mới.

Theo các tư liệu lịch sử của thành phố, đến chiều cùng ngày, tiếng súng cơ bản chấm dứt và thành phố được giải phóng.

Đối với Phạm Kiều Đa, khoảnh khắc ấy đặc biệt hơn rất nhiều.

Bởi người thanh niên từng bước vào hoạt động bí mật từ tuổi 16 giờ đây đã đứng giữa trung tâm thành phố, chứng kiến ngày mà ông và đồng đội đã chờ đợi suốt những năm chiến tranh.

Chiến tranh kết thúc, nhưng với Phạm Kiều Đa, nhiệm vụ vẫn chưa dừng lại.

Sau ngày giải phóng, ông được giao chỉ huy lực lượng phá bom, rà phá bom mìn tại khu vực phía đông nam sân bay Đà Nẵng và phía tây sông Hàn.

Những người lính từng chiến đấu trong lòng thành phố lại tiếp tục đối mặt với một hiểm nguy khác.

Bom đạn còn sót lại.

Mìn còn nằm dưới lòng đất.

Những thứ có thể cướp đi mạng sống ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc.

Phạm Kiều Đa cùng đồng đội tiếp tục công việc thầm lặng ấy, góp phần đưa thành phố trở lại cuộc sống bình thường.

Năm 2013, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày 29/3/1975.

Đà Nẵng hôm nay đã hoàn toàn khác.

Những căn hầm bí mật năm xưa không còn.

Những trận địa từng đầy khói lửa nay đã trở thành đường phố, khu dân cư và những công trình hiện đại.

Nhưng lịch sử của thành phố vẫn còn được lưu giữ qua ký ức của những người từng trực tiếp chiến đấu.

Trong ký ức ấy có hình ảnh một người thanh niên năm 16 tuổi bước vào lòng đất.

Có những năm tháng sống giữa hiểm nguy.

Có những ngày tháng âm thầm chuẩn bị cho một trận đánh lớn.

Và có một buổi sáng tháng Ba năm 1975, người chiến sĩ biệt động ấy cùng đồng đội tiến vào Tòa Thị chính.

11 giờ 30 phút ngày 29/3/1975.

Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Tòa Thị chính.

Đà Nẵng bước sang một thời kỳ mới.

Câu chuyện của Anh hùng Phạm Kiều Đa vì thế không chỉ là câu chuyện về một người lính biệt động.

Đó còn là câu chuyện về những con người đã chiến đấu ngay giữa lòng thành phố, âm thầm chuẩn bị cho ngày mà Đà Nẵng được giải phóng.

Từ những căn hầm bí mật đến Tòa Thị chính.

Từ tuổi 16 đến ngày thành phố được giải phóng.

Một chặng đường của chiến tranh đã khép lại.

Và một chặng đường hòa bình bắt đầu.

29 tháng 3 năm 1975 – Đà Nẵng được giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn