Phạm Ngọc Thạch - người thầy thuốc phụng sự cách mạng
Phạm Ngọc Thạch - người thầy thuốc phụng sự cách mạng
1. Từ bỏ vinh hoa để đi theo cách mạngPhạm Ngọc Thạch (2/5/1909 - 7/11/1968), sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước ở Bình Định. Cha ông là nhà giáo Phạm Ngọc Thọ, mẹ ông thuộc dòng dõi hoàng tộc ở Huế. Ông học tiểu học ở Phan Thiết và Thanh Hóa, sau ra học trung học ở trường Albert Sarraut - trường Bưởi (Hà Nội). Năm 1928, ông vào học trường Y khoa Đông Dương. Sau đó sang Pháp học tiếp và bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa năm 1934. Do học giỏi, ông được cử làm trợ lý tại Đại học Y khoa Paris, chuyên ngành lao phổi, đồng thời làm trợ lý ở bệnh viện Laennec. Tại Pháp, ông được thăng chức Giám đốc Bệnh viện Lao vùng núi phía Đông nước Pháp, đồng thời là bác sĩ chuyên khoa tại Viện Điều dưỡng Haute Ville [1]. Với vị thế của một bác sĩ đầu ngành về bệnh lao ở Pháp, Phạm Ngọc Thạch hoàn toàn có thể ở lại Pháp để phát triển sự nghiệp cùng các đồng nghiệp và giới y khoa quốc tế, nhưng ông luôn đau đáu với thực trạng vệ sinh y tế và tình hình sức khỏe của đồng bào mình. Vì vậy, ông đã từ bỏ hào quang danh giá nhiều người mong ước, lựa chọn con đường trở về quê hương, đem tài năng và nhiệt huyết của mình phục vụ công cuộc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Với hoài bão cháy bỏng đó, vào năm 1936, thầy thuốc trẻ Phạm Ngọc Thạch lên đường trở về nước.Về đến Sài Gòn, ông mở phòng mạch ở số nhà 202, đường Chasseloup - Laubat, với đăng ký định danh hành chính là: Phạm Ngọc Thạch, docteur, Tél 21.376 [2]. Bệnh nhân lao đến khám ở phòng mạch của ông, ngoài một số ít viên chức và người thị thành, đa số là người nghèo. Với tấm lòng thương người như thể thương thân, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã phát tâm chữa bệnh miễn phí cho họ, thậm chí còn giúp đỡ bệnh nhân nặng trong việc đi lại, ăn ở. Người dân gọi ông là “Người thầy thuốc của dân, người thầy thuốc có tấm lòng của Bồ tát” [3]. Năm 1936, ông trở thành hội viên duy nhất ở Đông Dương trong Hội nghiên cứu bệnh lao tại Pháp. Đây là sự ghi nhận của Hội nghiên cứu bệnh lao và giới y khoa của Pháp.Thời bấy giờ, một bác sĩ người Việt Nam có bằng tiến sĩ ở Pháp luôn là lựa chọn đắt giá của các cơ sở y tế công do chính quyền thuộc địa lập ra, hoặc nếu mở phòng mạch riêng, những người như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch sẽ có một cuộc sống dư giả về kinh tế và được trọng vọng trong giới y khoa cũng như toàn xã hội. Nhưng ông lại một lần nữa không chọn vinh hoa phú quý, mà quyết tâm đi theo cách mạng, phụng sự cho công cuộc giải phóng dân tộc và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Bởi hơn ai hết, ông luôn đau đáu một suy nghĩ: trong khi nhân dân ta tiếp tục bị thực dân Pháp bóc lột tàn nhẫn, thiếu những điều kiện tối thiểu để sống khỏe mạnh thì việc chăm sóc sức khỏe cho họ vẫn chưa giải quyết được gốc rễ vấn đề. Bởi tự do là gốc rễ và điều kiện cơ bản nhất góp phần tạo nên một cơ thể khỏe mạnh và tinh thần thoải mái. Vì vậy, ông quyết định phải tìm hiểu và đi theo cách mạng, làm cách mạng. Đó là con đường cơ bản nhất, đúng đắn nhất, thiết thực nhất để cứu giúp những bệnh nhân nói riêng và nhân dân nói chung.
Ảnh 1: Tượng chân dung Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tại khuôn viên Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn: Bùi Thị Hà chụp ngày 21-8-20232. Cả cuộc đời phụng sự cách mạngKhông chỉ là một người thầy thuốc thương dân, gần dân, Phạm Ngọc Thạch còn được nhớ tới với hình ảnh một trí thức Tây học yêu nước, có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.Trong những năm 1936-1939, Phạm Ngọc Thạch tham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Sài Gòn. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, ông được Đảng phân công hoạt động trong phong trào bất hợp pháp và bán hợp pháp của thợ thuyền Sài Gòn, trở thành Ủy viên Tổng Công hội bí mật Sài Gòn - Chợ Lớn. Tháng 3-1945, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được kết nạp vào Đảng Cộng sản và được Xứ ủy Nam Kỳ giao trọng trách thành lập một tổ chức thanh niên, làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh cách mạng.* Thực hiện sáng tạo chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ về việc thành lập Thanh niên tiền phongCuối tháng 3-1945, Ida - một sĩ quan Nhật Bản, Quyền Tổng trưởng Thanh niên - Thể thao Đông Dương đã đề nghị bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra thành lập một tổ chức thanh niên với ý định sử dụng thanh niên Việt Nam trong việc đối phó với Đồng Minh ở Đông Dương. Phạm Ngọc Thạch đã từng phụ trách khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho Ida. Chính vì vậy, từ chỗ mang ơn người thầy thuốc, Ida trở thành bạn của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch [4]. Ida ngỏ ý để cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch toàn quyền quyết định về tổ chức, tên gọi, tôn chỉ, nội dung hoạt động của tổ chức thanh niên.Trước lời đề nghị đó, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã xin ý kiến Xứ ủy Nam Kỳ. Xứ ủy đã chỉ đạo thành lập Thanh niên Tiền Phong, một tổ chức công khai (theo đề nghị của Nhật) để qua đó đoàn kết, tập hợp lực lượng cho phong trào cách mạng. Giáo sư Trần Văn Giàu kể lại: “Thạch không muốn diễn cái trò nguy hiểm này, nhưng Hà Huy Giáp, tôi và lãnh đạo xứ cho rằng có thể và cần phải nắm cơ hội để gây một phong trào thanh niên công khai, rộng lớn, đẩy nhanh cuộc vận động cách mạng tới trước” [5]. Sau khi xin ý kiến của Xứ ủy Nam Kỳ, vào tháng 5-1945, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Thái Văn Lung, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ và sinh viên Huỳnh Văn Tiểng đã thành lập một tổ chức mang tên Thanh niên Tiền phong [6]. “Người ta nhắc lại rằng ông Thạch là người sáng lập tổ chức Thanh niên ở Nam Kỳ” [7].Ngày 1-6-1945, Thanh niên Tiền phong chính thức ra mắt nhân dân Sài Gòn và Nam Kỳ. Về hình thức, Thanh niên Tiền phong lấy Sở Thanh niên và Thể thao Nam Kỳ làm cơ sở pháp lý, hoạt động theo mô hình của tổ chức Hướng đạo Việt Nam và Tổng hội Sinh viên Đông Dương. Về nguyên tắc hoạt động, Thanh niên Tiền phong phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, lấy công đoàn và thanh niên tích cực làm nòng cốt [8]. Thanh niên Tiền phong được tổ chức theo địa bàn hành chính, chia thành 4 cấp: trung ương, tỉnh (thành), huyện (quận), xã (phường). Hội đồng quản trị gồm 21 người [9] là những người yêu nước, cảm tình Đảng và đảng viên cộng sản. Một Chi bộ Đảng Cộng sản được thành lập, Bí thư là Phạm Ngọc Thạch. Lúc bấy giờ, theo cách của Mặt trận Việt Minh tập hợp và tổ chức quần chúng, Thanh niên Tiền phong đã được tổ chức thành các đoàn thể: Thanh niên Tiền phong, Phụ nữ Tiền phong, Phụ lão Tiền phong, Thiếu nhi Tiền phong, Thanh niên Tiền phong Ban xí nghiệp… Để phát triển lực lượng, Xứ ủy Nam Kỳ và Thanh niên Tiền phong đưa Tổng Công hội vào làm nòng cốt, thành lập Thanh niên Tiền phong Ban xí nghiệp [10].Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đãcùng với Ban Lãnh đạo tổ chức cho Thanh niên Tiền phong chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa, hướng vào 04 nhiệm vụ chính: Tổ chức các hoạt động xã hội; huấn luyện chính trị; huấn luyện quân sự; mít tinh, tuần hành, rải truyền đơn. Hoạt động của Thanh niên Tiền phong không chỉ tỏ rõ tính cách mạng của tổ chức này mà còn chiếm được cảm tình lớn của đồng bào Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ. Vì thế Thanh niên Tiền phong trở thành một phong trào xã hội gồm nhiều đối tượng tham gia, không phân biệt chính trị, dân tộc, tôn giáo. Thanh niên Tiền phong nhanh chóng phát triển từ Sài Gòn ra khắp Nam Kỳ. Theo đánh giá của Philippe Devillers (1952), “Phong trào thanh niên tạo nên một sự khuếch trương rộng lớn, nhất là ở Nam Kỳ - nơi mà phong trào này được sự lãnh đạo của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Họ được gọi là Thanh niên Tiền phong” [11]. Hàng vạn tín đồ của các giáo phái và rất đông trí thức, nhân sĩ, công chức, người của Dinh Khâm Sai cũng tham gia vào Thanh niên Tiền phong. Đến tháng 8-1945, toàn Nam Kỳ có khoảng hơn 1 triệu đoàn viên Thanh niên Tiền phong, thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn có 200.000 đoàn viên [12].* Định hướng chính trị cho Thanh niên Tiền phongNgày 5-7-1945, Thanh niên Tiền phong tổ chức lễ tuyên thệ lần thứ nhất tại Vườn Ông Thượng (Sài Gòn) [13]. Tại đây, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã đọc diễn văn hiệu triệu đến toàn thể đoàn viên: “Ngày nay, chúng ta được hân hạnh, dưới bóng ngọn cờ Thanh niên Tiền phong giữa trời xanh, dưới mắt chứng kiến của quốc dân đồng bào đông đảo, quỳ để tuyên thệ: Tôi luôn hết lòng hy sinh cho tổ quốc, Tôi luôn luôn theo luật lệ danh dự Thanh niên Tiền phong” [14]. Kết thúc bài diễn văn, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch kêu gọi toàn thể quốc dân tham gia vào cuộc tranh đấu, kiến thiết nền độc lập cho nước nhà: “… Anh em hãy gia nhập hàng ngũ Thanh niên Tiền phong, để đáp lại lời di chúc của mấy nhà chí sĩ cách mạng xưa để giải phóng dân tộc ta, để chống lại hết thảy đế quốc thực dân, mà kiến thiết nền độc lập của nước Việt Nam” [15].Ngày 19-8-1945, Thanh niên Tiền phong tổ chức lễ tuyên thệ lần thứ hai ở Vườn Ông Thượng (Sài Gòn), thu hút hàng vạn người tham gia. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã phân tích tình hình thế giới, và kêu gọi thanh niên Việt Nam phải noi gương các anh hùng đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc [16]. Từ trong đám đông có người hô lớn “Hoan hô Việt Minh”, tức thì cả rừng người hưởng ứng “Hoan hô Việt Minh, Thanh niên Tiền phong ủng hộ Việt Minh” [17]. Sau đó, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đọc ba lời thề của Thanh niên Tiền phong:Một, chúng tôi xin thề: Trung thành với Tổ quốc! Xin thề! Hai, chúng tôi xin thề: Trung thành với Nhân dân! Xin thề! Ba, chúng tôi xin thề: Giữ gìn phẩm chất cao đẹp! Xin thề! [18]Bài diễn thuyết của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã khích lệ tinh thần của đoàn viên Thanh niên Tiền phong và quần chúng nhân dân hăng hái tham gia vào phong trào cách mạng, chuẩn bị những điều kiện cần thiết, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Ảnh 2: Bài viết “Thanh niên Tiền phong” của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Nguồn: Báo Nhân dân, số 2110, thứ Bảy ngày 26-12-1959* Góp phần tổ chức cho Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt trong nổi dậy giành chính quyềnNgày 20-8-1945, tại Sài Gòn, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra hoạt động công khai. Ngày 20-8-1945, tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội lan vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ làm cho khí thế cách mạng dâng cao hơn bao giờ hết. Ngày 21-8-1945, hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ lần thứ hai đã cử ra một Ủy ban Hành chính lâm thời do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Để thăm dò phản ứng của Nhật, hội nghị quyết định thí điểm khởi nghĩa ở Tân An vào ngày 22-8-1945, rồi từ đó mở rộng tổng khởi nghĩa ra toàn xứ Nam Kỳ.Ngày 22-8-1945, Thanh niên Tiền phong tuyên bố là một thành viên của Mặt trận Việt Minh, và trở thành một thành viên của Ủy ban khởi nghĩa Nam Kỳ. “Thanh niên Tiền phong đã trở thành hình thức công khai của Mặt trận Việt Minh” [19]. Điều này cũng khẳng định: “Trên cơ sở lực lượng to lớn ấy, Đảng đã lãnh đạo khéo léo không để Thanh niên Tiền phong đối lập với Việt-minh mà đi theo Việt-minh để rồi dần dần sáp nhập vào Việt-minh và đoạt chính quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh” [20]. Sau lời tuyên bố gia nhập Mặt trận Việt Minh, Thanh niên Tiền phong đã cùng với nhân dân Nam Kỳ đứng lên giành chính quyền trong những ngày tháng 8 năm 1945 lịch sử. Ngày 25-8-1945, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thay mặt Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ đọc danh sách Ủy ban lâm thời Nam Bộ. Trong đó, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giữ trọng trách là Ủy trưởng ngoại giao [21].Ngày 27-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Ủy viên Ủy ban nhân dân Nam Bộ phụ trách công tác đối ngoại. Cuối năm 1945, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch xin từ nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Y tế để trở về làm việc trực tiếp ở mặt trận phía Nam và cống hiến cho sự nghiệp chống giặc, cứu nước. Ông là thành viên của đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Pháp tại Hội nghị trù bị ở Đà Lạt tháng 4-1946. Cuối năm 1946, ông ra Bắc và được cử làm Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, đặc phái viên của Chính phủ sang một số nước châu Á và châu Âu để trình bày quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. “Phạm Ngọc Thạch người đại diện của Mặt trận Việt Minh tham dự hội nghị tại Kharbine, diễn ra vào cuối tháng 11 năm 1947. Hội nghị tập trung hơn 300 đại biểu đảng viên cộng sản đến từ Triều Tiên, Mông Cổ, Philipine, Ấn Độ, Myanma, Đông Dương. Phạm Ngọc Thạch được bầu là đại sứ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Moscou” [22].Năm 1948, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được cử làm Trưởng phái đoàn Chính phủ vào Nam Bộ công tác; sau đó được bầu làm Thường vụ Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1953, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch quay trở lại chiến khu Việt Bắc, được phân công làm Trưởng ban Y tế của Đảng phụ trách công tác Y tế an toàn khu (ATK), và là Giám đốc Bệnh xá 303. Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. Năm 1957, Viện Chống lao Trung ương được thành lập, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là Viện trưởng. Năm 1958, ông được cử giữ chức Bộ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Y tế.3. Những cống hiến với chuyên ngành lao phổiBác sĩ Phạm Ngọc Thạch có công lao rất lớn với chuyên ngành lao và bệnh phổi ở Việt Nam. Ông là người đầu tiên đưa ra phương pháp dùng Filatov, dùng Subtilis trong việc điều trị bệnh lao, bệnh phổi và đạt được hiệu quả cao [23]. Cùng với những thành công trong công tác phòng và điều trị bệnh, ông cũng để lại một di sản y văn, gồm nhiều công trình nghiên cứu y học tâm huyết về bệnh lao, bệnh phổi và cơ sở lý luận cho y học Việt Nam hiện đại. Năm 1964, ông đã viết và cho xuất bản cuốn sách Quán triệt phương châm phòng bệnh trong công tác bảo vệ sức khỏe, nêu lên những cơ sở xã hội, vấn đề phòng bệnh ở Việt Nam và bảy bài học kinh nghiệm. Năm 1967, ông viết và xuất bản cuốn sách bằng tiếng Pháp với nhan đề Nhiệm vụ của y tế trong chiến tranh [24].Bên cạnh đó, Tập hợp các công trình nghiên cứu về lao và bệnh phổi của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là tuyển tập các bài viết trên các tập san, tạp chí trong và ngoài nước về các khía cạnh của bệnh lao và bệnh phổi như: Dịch tễ, miễn dịch học, phòng và chữa bệnh. Những kết quả nghiên cứu của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch về y học nói chung cũng đã được giới y khoa trong và ngoài nước đánh giá cao, được bạn bè đồng nghiệp ghi nhận trong một nghiên cứu mang tên Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và cơ sở lý luận y học Việt Nam [25].Sáu giờ sáng ngày 7-11-1968, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch từ trần ở vùng căn cứ Tây Ninh. Năm 1996, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh vì những cống hiến trong lĩnh vực khoa học y dược [26].ANH HÙNG, LIỆT SĨ TRẦN THỊ KỶĐồng chí Trần Thị Kỷ sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cũ (giờ là Gia Lai), tham gia cách mạng năm 1963. Khi hy sinh đồng chí là y tá, đội viên du kích xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, Quân khu 5, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.Đồng chí Trần Thị Kỷ xuất thân trong gia đình cha mẹ và 2 em đều tham gia hoạt động cách mạng, có một em là liệt sĩ. Bản thân đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 16 tuổi, đã làm các nhiệm vụ liên lạc, chiến đấu, y tá... được giao nhiệm vụ nào Trần Thị Kỷ đều tìm cách hoàn thành xuất sắc.Từ tháng 2 năm 1963 đến đầu năm 1965, đồng chí làm nhiệm vụ chuyển thư từ công văn từ huyện ủy An Nhơn đi các nơi trong thời kỳ địch còn kìm kẹp hết sức gắt gao. Trần Thị Kỷ đã mưu trí dũng cảm vượt qua mạng lưới tề, ngụy, cảnh sát, mật vụ dày đặc của địch, trong suốt 2 năm, hàng trăm lần chuyển thư đều bảo đảm bí mật an toàn, đã góp phần quan trọng giúp huyện lãnh đạo phong trào diệt ác phá kìm chuẩn bị "đồng khởi".Từ tháng 2 năm 1965, Trần Thị Kỷ vừa chiến đấu vừa làm y tá cứu chữa thương binh, vừa tham gia đấu tranh chính trị. Đặc biệt trong việc cứu chữa thương binh, điều kiện lúc đó địch đang thực hiện chủ trương "tát nước bắt cá", tập trung dân vào khu dồn, hễ bắt được ai tiếp giúp du kích đều tra tấn đánh giết rất dã man. Với trình độ y tá nhưng Trần Thị Kỷ phải chữa những trường hợp bị thương nặng, hiểm nghèo, trong điều kiện thiếu thuốc men, thậm chí thiếu cả cơm cháo, lại phải thường xuyên bảo vệ thương binh khi địch càn quét đánh phá, có lúc một mình phải cõng thương binh đi cất giấu. Nhiều đêm một mình nhưng Trần Thị Kỷ phải luồn lách vượt qua đồn bốt, ổ phục kích của địch xuống từng nhà cơ sở vận động xin thuốc men hoặc ra đồng mót lúa về làm gạo nấu cháo cho anh em...Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn gian khổ đó, Trần Thị Kỷ đã cứu chữa được hơn 200 thương bệnh binh.Đồng chí còn tham gia làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào, nhất là phụ nữ trong xã. Một lần vào tháng 10 năm 1965, Trần Thị Kỷ đã cùng một số chị em dẫn đầu đoàn biểu tình chống địch cày ủi nhà cửa, ruộng vườn của nhân dân trong xã để làm sân bay Gò Quánh. Mặc dù địch khủng bố hết sức dã man, bắn, giết, hãm hiếp nhiều chị em trong đoàn biểu tình, Trần Thị Kỷ vẫn không hề nao núng cùng bà con đấu tranh khiến địch phải chùn sợ.Ngày 18 tháng 5 năm 1966, đồng chí nhận nhiệm vụ đưa 20 cán bộ và thương binh xuống hầm bí mật để tránh địch đi càn, vừa đậy nắp hầm và ngụy trang xong thì Trần Thị Kỷ bị địch bắt. Chúng tra tấn đồng chí hết sức dã man như đóng đinh vào đầu ngón tay, đâm lưỡi lê vào người, đốt tóc... nhưng đều không moi được một lời khai nào. Cuối cùng địch đã phải thiêu sống vì không khuất phục được Trần Thị Kỷ. Trước khi hy sinh đồng chí còn hô nhiều khẩu hiệu cách mạng.Gương hy sinh oanh liệt của Trần Thị Kỷ đã cổ vũ mạnh mẽ lực lượng vũ trang nhân dân và toàn Quân khu 5 lúc đó, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi giết giặc lập công.Đến nay đã có 3 địa phương ở tỉnh Bình Định cũ (giờ là Gia Lai) lấy tên Trần Thị Kỷ đặt cho đường phố.Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng ba.Ngày 20 tháng 12 năm 1994, đồng chí Trần Thị Kỷ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



