Phạm Ngọc Thạch – người thầy thuốc vì nhân dân
Phạm Ngọc Thạch (1909-1968), bác sĩ chuyên khoa lao và bệnh phổi Việt Nam. Anh hùng lao động (1958). Ông quê Quảng Nam, là người học giỏi, thi đậu và trường Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp du học và tốt nghiệp bác sĩ Y khoa tại Paris năm 1934 và làm việc tại một bệnh viện lao ở phía Đông nước Pháp. Năm 1936, ôngvề nước, mở phòng khám tư, rất được bệnh nhận tín nhiệm. Năm 1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và là thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong Nam Bộ (1945). Cách mạng tháng Tám thành công, ông được bổ nhiệm làm bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Trong kháng chiến chống Pháp, ông là chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn (1950 - 53), Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (1956 - 61). Năm 1953, ông được cử làm Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Y tế (1958 - 68), chủ tịch Uỷ ban Điều tra tội ác của đế quốc Mĩ ở Việt Nam (từ 1966). Ông là người sáng lập Viện Chống lao Trung ương. Ông cũng là người chỉ đạo nhiều công trình nghiên cứu về phòng lao (BCG chết), chữa lao (kích sinh chất filatop, subtilis) cũng như nhiều bệnh phổi (viêm phế quản mạn, bụi phổi, nấm phổi, kí sinh trùng phổi, vv.), đặt nền móng cho hình thành chuyên khoa lao và các bệnh phổi ở Việt Nam. Ông có công xây dựng mạng lưới y tế Việt Nam, tổ chức y tế cơ sở làm tiền đề cho triển khai đường lối chăm sóc sức khoẻ ban đầu sau này. Năm 1968, ông vào chiến trường miền Nam, trực tiếp tổ chức và tham gia cứu chữa thương binh, bệnh binh. Cũng trong năm này, ông qua đời do viêm phúc mạc mật và sốt rét ác tính. Lễ tang của ông được Chínhtổ chức trọng thể tại Hà Nội. Ông để lại các công trình đồ sộ về y khoa như các sách Cơ sở lý luận y học Việt Nam, Quán triệt phương châm phòng bệnh trong công tác bảo vệ sức khỏe, Mười nǎm xây dựng y tế nông thôn, các bài báo khoa học bằng tiếng Việt và tiếng Pháp có giá trị rất cao: “Điều tra về tình hình bệnh lao ở miền Bắc Việt Nam”, Tập san Bệnh lao (1958), “So sánh giá trị của phản ứng BCG với phản ứng tuberculine theo phương pháp Mantoux” (1958), “Điều trị bệnh lao phổi mãn tính người lớn bằng phương pháp kháng sinh - kích sinh tố tiêm dưới da tại vùng huyệt phổi” (1958), “Bệnh lao và thai nghén” (1958), “Về mối liên hệ giữa biến chuyển lâm sàng với tính chất chống thuốc hay chịu thuốc của vi trùng với lao niazide trong bệnh lao” (1958), “Những thí nghiệm đầu tiên và phương pháp thuần nhất đờm để tìm ra vi trùng lao với papain”, Tập san Bệnh lao (1958), “Những thí nghiệm áp dụng cấy vi trùng lao trên kính với môi trường máu” (1958), “Chỉ số catalase trong máu người lao” (1958), “Tình hình bệnh lao ở miền Bắc Việt Nam” (1959), “Vấn đề tái phát trong điều trị lao phổi người lớn bằng INH” (1959), “Những sự chuyển biến của phản ứng tuberculine trong quá trình điều trị bằng isoniazide phối hợp với tiêm kích sinh chất” (1959), “Nhận xét về allergia với vi trùng lao ở những bệnh nhân mắc bệnh phong” (1959),”Thuần nhất đờm tìm vi trùng Koch bằng nước quả đu đủ tươi (1959)”, “Dùng nước gạo chua trong việc pha chế môi trường nuôi vi trùng lao thay asparagine (1959)”, “Điều trị lao phổi mãn tính bằng isoniazide phối hợp với kích sinh chất tiêm vùng huyệt phổi” (1960), “Nghiên cứu về vi trùng học trong bệnh lao có bảng điều trị phối hợp INH và kích chất tiêm vùng huyệt phổi (1960)”, “Nghiên cứu về miễn dịch chống lao bằng BCG chết” (1960), “Sự phát triển của công tác chống lao ở Việt Nam” (1960), “Nghiên cứu về bệnh lao tiên nhiễm trong trẻ lao dưới 3 tuổi ở Việt Nam” (1960), “Hiệu lực miễn dịch của các vaccin làm từ micobacteria chết, nhận xét thí nghiệm” (thông báo số 2) 1961’ “Thí điểm tiêm phòng lao cho người bằng BCG chết” (Thông báo số 2), “Gây miễn dịch đối với bệnh lao bằng vi trùng chết” (1962), “Nhận xét hiệu lực miễn dịch của các vaccin làm từ micobacteria chết” (Thông báo số 4) (1962), “Phản ứng của BCG chết ở những người ở đã có dị ứng” (Thông báo số 6) (1962), “Vấn đề phòng bụi bằng BCG chết” (Thông báo số 7) (1962), “Những nhận xét đầu tiên về khả năng bảo vệ của BCG chết trong môi trường có nguồn lây thường xuyên” (Thông báo số 8) (1962), “Đếm số nốt trên phổi chuột thí nghiệm để so sánh BCG sống, BCG chết 43 độ C và BCG lấy hết chất mỡ” (Thông báo số 9), “Bacillus Subtilis trong việc điều trị bệnh lao phổi và bệnh phổi” (1963), “Điều trị bệnh nhân lao ngoài bệnh viện” (1964), “Vaccin BCG chết trong công tác chống lao trẻ em ở Việt Nam (1964), “Nghiên cứu về tình hình sơ nhiễm ở trẻ do trực trùng không điển hình” (1964), “Công tác chống lao ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (1966), “Mười năm hoạt động chống lao ở Việt Nam” (1967), “Sinh vật học phân tử và y học” (1968). Các bài báo bằng tiếng Pháp có “Etude clinique sur la réristance à l’INH des maladies constamment bacillifères traitées depuis 2 ans par la méthode des injections de biostimuline associées aux antibiotiques”(Semaine des Hôpitaux. Médecine dans le monde, 1958, “Le traitement de la tuberculose pulmonaire chronique par l’INH associées aux injections sous-cutanées de biostimulines dans la région d’accupuncture pulmonaire”(1964), “La subtilithérapie dans les affections pulmonaires: le bacillus subtilis dans le traitement de la tuberculose pulmonaire”(Semaine des Hôpitaux. Semaine thérapeutique, 1964), “La vaccination antituber culeuse par le BCG tué”(Le poumon et coeur, 1964), “Etat actuel des maladies cardiovasculaires dans la D.R.V”(Santé publique, Bucarest, 1961), “Les tâches principales du Service de Santé de la D.R.V. dans le plan d’Etat de 5 ans (1961-1965) ” - (Santé publique, Bucarest, 1961). “La médecine Vietnamienne au service du peuple”(Santé publique, Bucarest, 1961), “Le bacillus subtilis en thérapeutique et dans la prophylaxie” (Rev. Immun, et de thér. Antimicrob, (Paris) 1968, “L’immunisation contre la tuberculose par le BCG tué”(Rev. Immun, et de thér, antimicrob (Paris) 1968, “Les problèmes de la lutte antituberculeuse au Viet Nam”(Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ XIV tại New Delhi 1957).



