PHẠM NGỌC THẢO – NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG LÀM RUNG CHUYỂN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Theo dòng chảy của lịch sử, dải đất hình chữ S đã phải oằn mình chống chọi với biết bao thế lực ngoại xâm nhòm ngó, lăm le xâm chiếm, hòng biến nước ta thành thuộc địa, đồng hóa dân tộc và xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh trong thời kỳ Bắc thuộc, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc ta vẫn hiên ngang đứng vững, giữ gìn non sông, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp mà cha ông để lại. Đó là minh chứng cho sức mạnh nội tại của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của biết bao thế hệ người Việt Nam. Bước ra khỏi những năm tháng chiến tranh, thứ còn đọng lại với thời gian không chỉ là những trang sử hào hùng, mà còn là những bài học lịch sử vẫn nguyên giá trị; là những con người tưởng chừng nhỏ bé nhưng trong những thời khắc quyết định lại trở nên phi thường, để rồi hóa thành những tên tuổi sống mãi cùng lịch sử dân tộc. Có hàng triệu chiến sĩ đã không ngần ngại hy sinh tính mạng để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời, cũng có biết bao người con của đất Việt âm thầm thực hiện những nhiệm vụ mà phần lớn cuộc đời họ không được phép nói ra, trực tiếp góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng. Trong số những con người đặc biệt ấy, Đồng chí Phạm Ngọc Thảo là một trường hợp tiêu biểu.
Một xuất thân đặc biệt

Phạm Ngọc Thảo, tên khai sinh là Albert Phạm Ngọc Thuần, sinh năm 1922 tại làng Mỹ Phước, tỉnh Long Xuyên (nay là thành phố Cần Thơ) trong một gia đình Công giáo trí thức và có điều kiện kinh tế khá giả ở Nam Bộ. Cha ông là một kỹ sư trắc địa, đồng thời là một điền chủ lớn và mang quốc tịch Pháp. Gia đình có nền tảng giáo dục tốt, nhiều anh chị em của ông được đưa sang Pháp học tập và sau này trở thành những trí thức có vị trí trong xã hội.
Trong bối cảnh ấy, Phạm Ngọc Thảo cũng từng có một tương lai rất khác nếu lịch sử không biến động. Ông mang quốc tịch Pháp, được học hành theo chương trình Tây học và từng có dự định sang Pháp tiếp tục học tập như các anh chị em trong gia đình. Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ hai đã khiến kế hoạch ấy không thể thực hiện. Sau khi hoàn thành bậc tú tài tại Sài Gòn, ông ra Hà Nội học Kỹ sư Công chính.
Biến động thời cuộc và nhiệm vụ có một không hai trong lịch sử
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời Phạm Ngọc Thảo đến vào năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại Nam Bộ. Trước tình thế đất nước một lần nữa phải đứng lên chống ngoại xâm, ông đã lựa chọn một con đường hoàn toàn khác với cuộc sống sung túc mà xuất thân có thể mang lại: từ bỏ quốc tịch Pháp và tham gia cách mạng. Năm 1946, ông được cử ra Bắc học khóa đầu tiên của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Sau khi hoàn thành khóa học, ông trở lại Nam Bộ tham gia kháng chiến, từng đảm nhiệm nhiều công việc liên quan đến quân sự và tổ chức.
Chính điều tưởng như là nghịch lý trong tuổi trẻ của ông về sau lại trở thành một lợi thế chiến lược khi ông được giao nhiệm vụ trở thành một điệp viên đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Việt Nam và trên thế giới thời bấy giờ. Sau khi Hiệp định Genève được kí kết, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Nhưng đích thân đồng chí Lê Duẩn đã chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo ở lại chiến trường miền Nam, thâm nhập vào hàng ngũ cấp cao của chính quyền Sài Gòn để phục vụ mục tiêu thống nhất đất nước. Đây là một nhiệm vụ hết sức nguy hiểm, bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ, một lời nói lỡ lời sẽ khiến tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng. Điều làm cho sứ mệnh của ông trở nên khác biệt so với các đồng nghiệp cùng thời là ông không hoạt động giống một điệp viên thông thường, tức là có một mạng lưới cán bộ bên ngoài liên tục giao nhiệm vụ và nhận báo cáo. Một số nguồn mô tả ông hoạt động đơn tuyến, tự xoay xở trong lòng địch và chủ yếu nhận sự chỉ đạo trực tiếp ở cấp chiến lược từ Lê Duẩn, đồng thời không có trách nhiệm phải báo cáo tin tức cho bất kỳ ai mà ông không cảm thấy tin tưởng. Đây là một dạng “tình báo hành động”, thay vì thu thập tin tức từ những diễn biến thời cuộc, ông sẽ trực tiếp tạo nên những làn sóng đánh mạnh vào nội bộ chính quyền, gây suy yếu từ bên trong, chia rẽ đoàn kết, làm mất ổn định và cản trở việc thực hiện các kế hoạch của đối phương.
Quá trình tạo vỏ bọc hoàn hảo và từng bước thâm nhập vào hệ thống cấp cao của chính quyền Sài Gòn
Gia đình Phạm Ngọc Thảo vốn có mối quan hệ rất thân thiết với Giám mục Ngô Đình Thục, anh trai của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Nhờ “tấm thông hành” này, ông đã được Ngô Đình Thục giới thiệu với Huỳnh Văn Lang – một nhân vật quan trọng trong hệ thống tài chính và chính trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, tạo tiền đề để ông được đứng vào hàng ngũ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông thừa nhận gốc gác, quá khứ tham gia cách mạng của mình mà không che giấu, duy chỉ có duy nhất một điều ông không khai báo: Ông là Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông không cố gắng xóa sạch hình ảnh cách mạng của mình, mà khéo léo làm cho câu chuyện của mình thành một cái cớ hợp lý, quay trở về với “chính nghĩa quốc gia” của Ngô Đình Diệm. Chính điều này đã làm cho ông nhận được sự tin tưởng từ chính quyền anh em nhà họ Ngô, tin tưởng giao cho ông trọng trách Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre ngày nay), đúng vào thời điểm phong trào Đồng khởi đang phát triển mạnh mẽ ở Miền Nam. Khi nhận nhiệm vụ mới, ông đã đề nghị trực tiếp với Ngô Đình Diệm 3 yêu cầu:
· Một là, ổn định tình hình Bến Tre không phải bằng bạo lực mà là chính trị, vì ông không thể hành động như những quân nhân võ biền khác.
· Hai là, nếu bắt được Việt Cộng, có đủ bằng chứng, cho lập phiên tòa xét xử.
· Ba là,Tỉnh trưởng Bến Tre được đặc cách chỉ báo cáo với Tổng thống, không qua một ban, bộ nào.

Một trong những việc làm nổi bật ông từng thực hiện là ký quyết định trao trả tự do cho hơn 2.000 tù nhân chính trị đang bị giam giữ, liên lạc với bà Nguyễn Thị Định tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ và lập tòa án trừng trị bọn phản bội, đầu hàng. Chính sách không sử dụng bạo lực của Phạm Ngọc Thảo đã "bật đèn xanh" cho phong trào Đồng Khởi sau này. Trong thời gian làm tỉnh trưởng, Phạm Ngọc Thảo còn tìm cách điều chỉnh hoạt động quân sự của chính quyền sao cho các cuộc hành quân tránh những khu vực mà lực lượng cách mạng đang tập trung. Nhờ đó, lực lượng cách mạng hạn chế được tổn thất và có thêm điều kiện củng cố, phát triển phong trào.
Nhảy múa giữa làn ranh của địch với hai cuộc đảo chính
Sau năm 1963, khi chính trường miền Nam liên tục biến động, vai trò của Phạm Ngọc Thảo càng trở nên đặc biệt.Ông trực tiếp tham gia vào những hoạt động chính trị và quân sự phức tạp, trong đó có các kế hoạch đảo chính và những cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ chính quyền Sài Gòn. Những biến động chính trị liên tiếp trong giai đoạn 1964–1965 đã khiến chính quyền và quân đội Sài Gòn rơi vào tình trạng bất ổn. Những hoạt động của Phạm Ngọc Thảo góp phần làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn và tạo ra những điều kiện có lợi cho cách mạng.

Cuộc đảo chính lần thứ nhất
Tháng 99/1963, Trần Kim Tuyến - nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu một cuộc đảo chính Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ. Để chấm dứt âm mưu đảo chính này, ngày 6 tháng 9 năm 1963, Tổng thống Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin Thảo phản bội, thứ hai là Thảo "không có quân". Thực ra lúc đó Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an,... hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Cuộc đảo chính lần thứ hai
Đầu năm 1965, ông đã bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn vì một lý do vô cùng quan trọng: Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19 tháng 2 với tên gọi Chiến dịch Nguyễn Huệ.
Ngày 19/2/1965, Phạm Ngọc Thảo đem lực lượng quân sự và xe tăng vào đánh chiếm các địa điểm trọng yếu ở Sài Gòn. Mục tiêu quan trọng hàng đầu là bắt sống Nguyễn Khánh đã không thực hiện được. Trong tờ Việt Tiến với bút hiệu Lê Minh, đại tá Phạm Ngọc Thảo đã viết: "Chúng tôi vì không muốn đổ máu mà hơn nữa ngay từ phút đầu đã thấy có sự chia rẽ và tranh giành nhau, nên tôi đã cho lệnh chấm dứt cuộc chính biến vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 2 và coi như 20 giờ làm chủ thủ đô đã chấm dứt".
Bị bắt và giữ kín thân phận đến lúc hy sinh
Sau nhiều biến động chính trị, Phạm Ngọc Thảo ngày càng bị nghi ngờ. Năm 1965, sau khi cuộc đảo chính thứ hai thất bại, ông trở thành mục tiêu truy bắt gắt gao của chính quyền Sài Gòn vì gây rối trật tự chính trị, đe dọa đến nền an ninh quốc gia. Nhận thấy tính mạng của ông đang bị đe dọa nghiêm trọng, phía cách mạng từng có ý định đưa ông ra khỏi vùng căn cứ, Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài an toàn nhưng ông đều từ chối. Ông chọn ở lại Sài Gòn vì cho rằng còn cơ hội để tiếp tục hoạt động, lên kế hoạch cho cuộc đảo chính thứ ba và khuấy đảo tình hình chính trị đầy biến động.
Ngày 16/7/1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý, Biên Hòa thì bị An ninh Quân đội mai phục sẵn bắt rồi đưa về một suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa thủ tiêu. Rạng sáng 17 tháng 7 năm 1965, ông anh dũng hy sinh khi mới 43 tuổi.
Sau khi mất, rất ít người biết ông là một nhà tình báo, người ta chỉ biết ông là một sĩ quan có khả năng chính trị và ngoại giao xuất sắc. Sau ngày Việt Nam thống nhất, nhiều đồng đội đã vô cùng chua xót khi thấy mộ ông vẫn chỉ là nấm mồ vô danh.Để phục vụ cho mục tiêu cách mạng và đảm bảo sự an toàn cho người thân ở phía bên kia bán cầu, đến năm 1987, ông được truy tặng danh hiệu liệt sĩ, với quân hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Có một hình ảnh đặc biệt khi nhìn lại cuộc đời Phạm Ngọc Thảo: hình ảnh ông trong bộ quân phục Việt Nam Cộng hòa. Và cũng chính bộ quân phục ấy trở thành một biểu tượng đầy nghịch lý khi nhìn lại cuộc đời ông: Một cuộc đời, hai thân phận. Một con người sống giữa hai thế giới. Mặc dù phải đối mặt với cái chết nhưng ông chỉ có một lựa chọn chung thủy, sắt son với cách mạng.
Mặc dù phải mất nhiều năm để công lao của ông mới được ghi nhận, nhưng những tác động của ông lên chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ không chỉ tạo bàn đạp vững chắc cho công cuộc thống nhất non sông sau này mà còn để lại cho hậu thế một di sản về trách nhiệm làm nghề, tận tâm cống hiến trong những thời khắc hiểm nghèo, đầy rẫy hiểm nguy và kề cạnh những làn ranh sinh tử.



